CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcVĩnh Long mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ á n dân sự thụ lý số:
2
25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu), vay không lãi suất, thời hạn vay khi nào bà
cần thì ông T trả, ông T vay tiền để chuộc bằng lái xe, khi vay ông T ghi giấy cộng
hai khoản nợ gồm 10.000.000 đồng vay ngày 04/10/2024 và 25.000.000 đồng vay
ngày 04/11/2024, tổng cộng là 35.000.000 đồng. Bản chính giấy vay do bà giữ.
Ngày 17/11/2024 ông T vay của bà 01 chỉ và ng 9T9 (chín tuổi chín hay còn gọi là
9999), việc vay không có lãi suất, khi vay có làm giấy do ông T ghi, vay không thời
hạn, ông T vay để chuộc bằng lái xe. Quá trình thực hiện hợp đồng đến nay, bà có
gọi điện đòi tiền và vàng thì ông T hứa sẽ trả cho bà nhưng sau đó ông T không trả .
Trong quá trình vay tiền ông T có gửi cho bà hình ả nh giấy căn cước của ông T là
083081018505.
Quá trình giải quyết vụ á n, bị đơn ông Nguyễn Quốc T đều vắng mặt nên
không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Hội
đồng xét xử tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy đị nh chung về phiên
tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự . Bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .
- Về quan điểm giải quyết vụ á n: Căn cứ Đi ều 21, 26, 35, 39, 58, 143, 147
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cá c Điều 117, 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm
2015, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng á n phí, lệ phí Tòa á n, đề nghị chấp yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Quốc T có trách nhiệm trả cho bà
Nguyễn Thị D số tiền 36.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 9999. Ghi nhận n guyên đơn
không yêu cầu tính lãi. Ông T phải chịu toàn bộ á n phí dân sự sơ thẩm theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA Á N :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên toà,
Hội đồng xét xử nhận định:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.