Mục lục - 3 điều ▼
Điều 55. Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 03 tháng tù
đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; từ 02 năm 03
tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp
hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 05 năm
06 tháng tù đến 06 năm tù.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại
sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây ngh iện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu
hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 bật lửa gas màu cam, đen,
bạc,; 01 kéo bằng kim loại, chuôi bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại
thu giữ của bị cáo và Trần Văn P không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu
hủy.
-- 5 of 11 --
6
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử
dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411,
có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H. Tại phiên
tòa, bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo xác định đó là tài sản chung của vợ chồng bà
và bị cáo H, đề nghị được xin lại chiếc xe để quản lý. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc
xe mô tô trên cho và H3 quản lý, sử dụng.
- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P. Tại phiên tòa, bà
Nguyễn Thị C là vợ P khai có liên quan đến ma túy, nếu các cơ quan tố tụng tịch
thu sung công quỹ thì bà cũng nhất trí, không có ý kiến gì nên đề nghị tịch thu
sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người
đúng tội, không oan, không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Vũ Thị H3 và bà Nguyễn Thị
C không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi
khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên;
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan
tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định
pháp luật.
[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp
với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng
đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ
căn cứ để xác định: Ngày 13/8/2025, tại khu vực nghĩa trang X, xã T, tỉnh Thái
Nguyên, Nguyễn Văn H là đối tượng đang được điều trị nghiện chất dạng thuốc
phiện bằng thuốc thay thế Methadol số 1 phường T, đã có hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức hít vào cơ thể. Tại kết quả test
nhanh ma túy đối với H ngày 15/8/2025 và Kết luận giám định số 90/KLGĐĐC-
TTPY ngày 21/8/2025 kết luận H dương tính với ma túy.
-- 6 of 11 --
7
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/8/2025, H có hành vi tàng trữ 0,376 gam
Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, khi H đang tìm nơi để sử dụng thì bị
Tổ công tác Công an xã T, tỉnh Thái Nguyên bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã
truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội “Sử dụng trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự
năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày
25/6/2025) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nội dung các điều luật quy
định như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm;
…
c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Điều 256. a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 02 đến 03 năm:
a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị các chất ma túy
bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến
tình hình trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm gia
tăng các tệ nạn xã hội khác như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, giết người... Bị
cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy và
sử dụng trái phép chất ma túy khi biết mình đang trong thời hạn điều trị các chất
ma túy bằng thuốc thay thế Methadone. Việc đưa Nguyễn Văn H ra truy tố và xét
xử về 02 tội trên là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho
xã hội.
[4] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo là đối tượng
nghiện ma túy, có 01 tiền án năm 2021 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị
cáo có nhân thân rất xấu: các năm 1997, 1999 bị xét xử đều về các tội “Tổ chức
dùng chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không
lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà đã cố tình thực
hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo nên
cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo,
buộc cách ly xã hội một thời gian để giúp bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình thành
người có í ch cho xã hội.
-- 7 of 11 --
8
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể
hiện thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy,
không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội
đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của Trần Văn P. Đến nay, P
đã chết, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đình chỉ điều tra đối với
Trần Văn P là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ của Trần Văn P, P khai mua của một
người đàn ông tên là V ở khu vực phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (cũ).
Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở để làm rõ.
[7] Vật chứng vụ án:
- Đối với số ma túy đã thu giữ của bị cáo và đối tượng Trần Văn P còn lại
sau khi giám định, thuộc danh mục chất gây nghiện, Nhà nước cấm sử dụng, lưu
hành, mua bán; các vỏ bì niêm phong và giấy gói; 01 kéo bằng kim loại, chuôi
bằng nhựa màu vàng, 01 dao lam bằng kim loại và 01 bật lửa gas màu cam, đen,
bạc, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu đen, đỏ, cũ, đã qua sử
dụng, gắn biển kiểm soát 20AF-091.65, có số khung là RLHJA3932SY000411,
có số máy là JA70E-0757664. Đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H là tài sản
chung của vợ chồng bị cáo. Bà Vũ Thị H3 là vợ của bị cáo không biết bị cáo dùng
vào việc đi mua ma túy và tại phiên tòa có ý kiến xin lại xe, nên xét thấy cần trả
cho bà H3 quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Đối với số tiền 2.195.000 đồng thu giữ của Trần Văn P là số tiền không
rõ nguồn gốc, bà Nguyễn Thị C khai có liên quan đến ma túy và không yêu cầu
gì, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án
theo quy định của pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
và các vấn đề khác là phù hợp, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1