CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải
có về Việt Nam thăm gia đình khoảng 1 tháng. Đến năm 2019 bà về Việt Nam
2
không còn đi nước ngoài, do lâu ngày sống xa nhau nên vợ chồng sống không
hạnh phúc, thường xuyên xảy ra xô xát, chính quyền địa phương từng đến hoà
giải nhưng không có kết quả. Tháng 02/2026 bà đã ra ngoài thuê trọ, mỗi người
ở một nơi, vợ chồng ly thân. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề
nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về quan hệ con chung: Bà và ông Phú Văn H có 05 người con chung là
chị Phú Thị A, sinh ngày 09/5/1990; chị Phú Thị N, sinh ngày 03/11/1993; chị
Phú Thị N1, sinh ngày 02/11/1996; chị Phú Thị B, sinh ngày 25/9/1999 và anh
Phú Mạnh C1, sinh ngày 03/12/2002. Hiện nay các con đã trưởng thành, ly hôn
bà không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông H tự thoả thuận, không đề nghị
Toà án giải quyết. Trường hợp không thoả thuận giải quyết được tài sản, bà sẽ
đề nghị xem xét, giải quyết bằng vụ án khác
Về án phí: Bà tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp
luật.
- Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị đơn ông Phú Văn H trình
bày: Về điều kiện và thời gian kết hôn như bà C trình bày là đúng. Sau ngày
cưới vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2004 thì xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân do bà C đi nước ngoài, vợ chồng sống xa nhau, hai bên thiếu sự
quan tâm dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân. Nay ông xác định tình cảm vợ
chồng không còn, bà C có đơn xin ly hôn ông đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết
cho ông bà được ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ con chung: Ông và bà C có 05 người con chung như bà C
trình bày là đúng. Hiện nay các con đã trưởng thành, ly hôn ông không đề nghị
Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà C không có, ly hôn không đề nghị
Toà án giải quyết.
Do bà C và ông H đều làm công nhân và việc tại công ty, việc xin nghỉ gặp
nhiều khó khăn nên ông bà đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.