Mục lục - 3 điều ▼
Điều 17. ; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M.
Áp dụng khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn M và Đào Bình A phạm tội “Buôn hàng cấm”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Tống Văn M từ 18 đến 24 tháng tù; xử
phạt bị cáo A từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ
24 đến 36 tháng. Phạt bổ sung đối với bị cáo M từ 25.000.000đồng đến
30.000.000đồng; phạt bổ sung đối với bị cáo A từ 20.000.000đồng đến
25.000.000đồng. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47
Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ
-- 3 of 8 --
4
số pháo nổ hoàn lại sau giám định; trả lại bị cáo M và A mỗi bị cáo 01 điện thoại
di động, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đã thực hiện đúng
như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố,
không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét
xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
Người có quyền lợ i, nghĩa vụ liên quan - ông Đào Đình N có ý kiến: Bị cáo
A là con trai của ông, chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE, biển số
90B2-861.78 là tài sản hợ p pháp của ông, ngày 03/01/2026 bị cáo A tự ý lấy
xe đi, ông N không biết A đi đâu, làm gì. Nay ông N đã đượ c nhận lại chiếc xe,
ông không có yêu cầu, đề nghị gì. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo A để bị cáo tiếp tục đượ c theo học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
đượ c tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát
viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện
đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố
tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợ p pháp, khách quan.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt tại
phiên toà nhưng không ảnh hưởng đến phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến
hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà là phù hợ p
với nhau, phù hợ p với lời khai của người có quyền lợ i nghĩa vụ liên quan, vật
chứng thu đượ c và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy,
đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 04/01/2026 tại thôn M, xã B, tỉnh Ninh
Bình, Tống Văn M và Đào Bình A có hành vi cất giữ trái phép 7,313 kg pháo nổ,
loại pháo hoa nổ đang mang đi bán kiếm lời thì bị Công an xã B, tỉnh Ninh Bình
phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Tống Văn M và Đào Bình A đã phạm vào tội: “Buôn
bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt đượ c quy định tại điểm c khoản 1, khoản
4 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình
đối với các bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-- 4 of 8 --
5
[4] Về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự:
- Về vai trò: Trong vụ án, bị cáo Tống Văn M là người bỏ tiền ra mua pháo
nổ, loại pháo hoa nổ nhằm bán lại kiếm lời, đồng thời hứa hẹn với Đào Bình A
về việc chia lợ i nhuận nếu bán đượ c nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Đào Bình
A giữ vai trò đồng phạm.
- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa,
các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân,
đồng thời tỏ rõ sự ăn năn hối cải trước pháp luật, mong muốn đượ c sửa chữa
lỗi lầm - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo đều đượ c
hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đào
Bình A có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có ông nội tham gia kháng chiến đượ c
tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhì, Huân chương chiến sĩ giải
phóng hạng ba, Huy chương kháng chiến hạng nhất, Kỷ niệm chương quân
tình nguyện Việt Nam giúp Lào, là thương binh loại A nên đượ c hưởng thêm
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật hình sự
[5] Về hình phạt.
Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành
nhiều văn bản cấm tàng trữ, vận chuyển, sản xuất, buôn bán và đốt các loại
pháo nổ. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật
tự và an toàn xã hội nhất là ngay trong dịp tết Nguyên đán. Bị cáo M bỏ tiền ra
mua pháo nổ về cất giấu rồi rủ A tìm người mua pháo nổ để bán lại, cùng đi
bán kiếm lời giữ vai trò đầu vụ nên cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị
cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo đượ c bị cáo, đồng
thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt,
Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp
hành án.
Bị cáo Đào Bình A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự nào, đượ c hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ
ràng. Vì vậy, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo
đượ c hưởng án treo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương
nơi cư trú cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo mà không gây nguy hiểm cho xã hội,
không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội vẫn đảm bảo tính răn
đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện đượ c sự khoan hồng của
-- 5 of 8 --
6
pháp luật đối với người phạm tội. Phù hợ p với quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình tại phiên toà; đảm bảo đúng quy
định của Bộ luật hình sự về án treo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu
lời bất chính. Để đảm bảo tính răn đe loại tội phạm này, Hội đồng xét xử cần
áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại
Điều 35. và khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cũng cần phải
xem xét về điều kiện hoàn cảnh thực tế của các bị cáo nên giảm một phần hình
phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE, màu sơn xanh, biển số
90B2-861.78 là tài sản hợ p pháp của ông Đào Văn N2 (bố đẻ của bị cáo A). Ông
N2 không biết việc bị cáo A sử dụng chiếc xe mô tô trên để cùng M đi buôn
bán pháo nổ vào ngày 04/01/2026 nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe
cho ông N2 phù hợ p.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A22 màu tím,
bên trong máy lắp 02 sim Viettel số thuê bao 0372878338 và số thuê bao
0777213121 là tài sản hợ p pháp của bị cáo M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu
IPHONE 8PLUS màu hồng, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao
036420916 là tài sản hợ p pháp của bị cáo A. Các bị cáo không sử dụng điện
thoại này vào việc buôn bán hàng cấm nên trả cho các bị cáo.
Đối với 7,313 kg pháo nổ, loại pháo hoa nổ hoàn trả sau giám định là vật
cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợ i nghĩa vụ liên
quan đượ c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về các vấn đề khác:
- Đối với đối tượ ng đã bán pháo hoa nổ cho Tống Văn M, quá trình điều
tra M khai đặt mua của đối tượ ng đăng bán trên ứng dụng Tiktok và người đàn
ông không rõ nhân thân lai lịch giao pháo nổ cho M. Ngoài lời khai của M không
có tài liệu nào khác xác định về người đã bán và giao pháo nổ cho M nên Cơ
quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N không có căn cứ để xác minh, điều tra
làm rõ.
- Đối với anh Vũ Văn D là chủ quán B. Anh D cho M ở nhờ tại quán trong
thời gian M đi tìm việc. Anh D không biết M mua 04 giàn pháo hoa nổ và cất
giấu ở quán của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N không
có căn cứ điều tra, xử lý đối với anh D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-- 6 of 8 --
7
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58. Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Căn cứ Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M.
Căn cứ khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn M và Đào Bình A phạm tội “Buôn bán hàng
cấm”.
Xử phạt bị cáo Tống Văn M 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, đượ c trừ thời gian tạm giữ, tạm
giam từ ngày 04/01/20260 đến ngày 12/01/2026.
Xử phạt bị cáo Đào Bình A 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 30 (Ba mươi ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đào Bình A cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đào Bình A có trách
nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Đào Bình A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy
định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35 và khoản 4 Điều 190 của Bộ
luật hình sự: phạt bị cáo Tống Văn M 10.000.000 (Mười triệu) đồng; phạt bị
cáo Đào Bình A 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy 7,313 kg pháo nổ, loại pháo hoa nổ hoàn trả sau
giám định trong 01 (một) thùng bìa cattong niêm phong dán kín, kích thước
(31 x 23 x 27) cm có dấu của Phòng K - Công an tỉnh N.
- Trả lại bị cáo Tống Văn M 01 điện thoại di động đã cũ nhãn hiệu
SAMSUNG Galaxy A22 màu tím, số IMEI1 3584757776369714, số IMEI2
35911189636971 bên trong lắp 02 sim V.
- Trả lại bị cáo Đào Bình A 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8PLUS
màu hồng, số IMEI 3586 89096453467 bên trong lắp sim V.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như 02 biên bản giao, nhận vật chứng
giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 6 - Ninh Bình ngày 09/02/2026 và ngày 14/4/2026).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
-- 7 of 8 --
8
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Tống Văn M, Đào Bình A mỗi bị cáo
phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợ i, nghĩa vụ liên quan
đượ c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7
và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Tối Cao (vụ GĐKT I).
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND khu vực 6 - Ninh Bình;
- Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA
hình sự, phòng HSNV - Công an tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu: Hồ sơ + Văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Thị Hân
-- 8 of 8 --