CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc123/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
2
mâu thuẫn, do ông N thường xuyên uống rượu, không quan tâm chăm sóc vợ con,
tiền làm ra bao nhiêu cũng tiêu xài cá nhân, vợ chồng vì thế hay cải nhau, mỗi lần
cải nhau ông N đánh bà V, sự việc kéo dài trong nhiều năm, vào tháng 04/2025
bà V có nộp đơn ly hôn tại Toà án hết một lần nhưng trong thời gian chờ Toà thụ
lý thì bà V rút yêu cầu ly hôn để cho ông N cơ hội sữa đổi tính tình, vợ chồng
sống vì con nhưng về sống không được bao lâu thì ông N lại không thay đổi
thường xuyên nhậu sỉn say còn hâm doạ giết bà V, nếu bà nộp đơn ly hôn ra Toà,
nay tình cảm đã không còn bà V cương quyết xin ly hôn, bà V đã bỏ về nhà cha
mẹ đẻ sống từ tháng 04/2025 đến nay. Vợ chồng ly thân.
Về con chung: Có hai người con chung tên Lê Văn T, sinh ngày 11/10/2006
và Lê Văn T1, sinh ngày 06/11/2017 các con chung hiện đang sống chung bà V,
khi ly hôn bà V yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng cho con
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Ngoài ra không còn ý kiến yêu cầu nào khác. Ngày 12/3/2026 bà Mai Thị
V có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Lê Văn N vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình
bày
Tài liệu do Toà án thu thập được: Đại diện ban ấp M, xã P cho biết ông Lê
Văn N, sinh năm 1985 có đăng ký thường trú tại ấp M, xã P, tỉnh An Giang, tuy
nhiên hiện tại ông N không có mặt tại địa phương, về tình trạng hôn nhân giữa bà
V, ông N mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không rõ.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề
xuất như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên
tòa. Nguyên đơn bà V đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo
quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông Lê Văn N đã
được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải
quyết vụ án là chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.