Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình Phát triển Du lịch
thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007-2010.
Điều 2. : Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. : Chánh Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng, Giám đốc Sở Du lịch và
các Sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các quận, huyện và Thủ trưởng các cơ quan,
đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Trần Văn Minh
-- 1 of 20 --
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
_______________________
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________________________________
CHƯƠNG TRÌNH
Phát triển Du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 7346/QĐ-UBND
ngày 17 tháng 9 năm 2007 của UBND thành phố Đà Nẵng)
__________________________________
Phần I
Đánh giá tình hình hoạt động du lịch thành phố Đà Nẵng
giai đoạn 2001 - 2006
I. Một số kết quả phát triển du lịch thời gian qua.
1. Các chỉ tiêu chủ yếu
a. Về khách Du lịch
- Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hằng năm giai đoạn 2001 -
2006 là 12% ( tăng 1% so với kế hoạch đề ra). Năm 2001 đón được 486.130 khách,
đến năm 2006 tăng lên 774.000 khách (tăng 1,6 lần).
- So với 6 tháng đầu năm 2006: 6 tháng đầu năm năm 2007 tổng lượt khách du
lịch đạt 577.433 lượt, tăng 35%. Đặc biệt, có đến 38 tàu du lịch cập Cảng Đà Nẵng
với 17.000 khách, tăng 2,1 lần. Khách du lịch đường bộ cũng tăng đột biến (gấp đôi)
với 11.000 khách.
- Dự kiến, năm 2007, tổng lượt khách du lịch ước đạt 1.022.900 khách, tăng 32
% so với năm 2006 và tăng 12% so với kế hoạch.
b. Doanh thu Du lịch
- Doanh thu chuyên ngành du lịch giai đoạn 2001-2006 tăng bình quân hàng
năm đạt 9% (giảm 2% so với kế hoạch). Từ 290,2 tỉ đồng năm 2001 tăng lên 435 tỉ
đồng năm 2006 (tăng 1,5 lần). Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch năm 2006 đạt
957 tỉ đồng.
- Trong 6 tháng đầu năm 2007, tổng doanh thu chuyên ngành du lịch đạt 297,97
tỉ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ và đạt 59,3% so với kế hoạch. Thu nhập xã hội từ
hoạt động du lịch đạt 655,5tỉ đồng.
- Dự kiến, năm 2007, tổng doanh thu chuyên ngành du lịch đạt 606 tỉ đồng, tăng
39% so với năm 2006 và tăng 21% so với kế hoạch. Thu nhập xã hội từ hoạt động du
lịch đạt 1.515 tỉ đồng.
2. Đầu tư xây dựng cơ sở chuyên ngành du lịch
-- 2 of 20 --
- Thành phố đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, các công trình
để phục vụ cho dân sinh và tạo thuận lợi cho phát triển du lịch như: đường Nguyễn
Tất Thành, đường Sơn Trà - Điện Ngọc; Khu du lịch Bà Nà-Suối Mơ, Công viên
nước, bán đảo Sơn Trà, Nhà hát Tuồng, Nhà hát Trưng Vương, nâng cấp khu danh
thắng Ngũ Hành Sơn. Tiến hành quy hoạch các tuyến, điểm du lịch với tổng diện tích
1.893 ha. Xúc tiến được 43 dự án đầu tư du lịch; trong đó có 12 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng vốn đầu tư 1.013 triệu USD (chiếm 53,1%) và 31 dự án đầu tư trong
nước với tổng số vốn đầu tư 14.320 tỉ đồng (chiếm 46,9%).
- Thành phố hiện có trên 109 khách sạn với tổng số 3.653 phòng; trong đó có 12
khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3-5 sao với 1.060 phòng, chiếm 29%. Công suất buồng
phòng bình quân đạt 55%; số ngày lưu trú bình quân đạt 1,61 ngày.
- Ngành Du lịch Đà Nẵng đã tích cực đầu tư, đưa vào khai thác các sản phẩm du
lịch mới như chương trình du lịch City tour, du lịch lặn biển, tour làng quê, leo núi,
du lịch sinh thái, ca múa nhạc dân tộc, lễ hội Quan Thế Âm được nâng cấp đưa vào
hoạt động phục vụ du khách.
- Môi trường cho du lịch bước đầu được cải thiện. Năm 2006-2007, bước đầu
xây dựng bãi tắm du lịch kiểu mẫu ở Mỹ Khê và T18; hình thành bãi tắm đêm;
thường xuyên kiểm tra môi trường ở các khu điểm du lịch.
- Tổ chức các chương trình quảng bá du lịch như: tham gia hội chợ, triển lãm du
lịch; Famtrip, quảng bá du lịch Đà Nẵng trên các phương tiện thông tin đại chúng,
xuất bản các ấn phẩm du lịch; tổ chức Liên hoan Văn hoá - Du lịch Đà Nẵng năm
2004, 2005, Liên hoan Du lịch “Đà Nẵng-Biển gọi 2007” và Liên hoan du lịch Gặp
gỡ Bà Nà hàng năm.
- Nguồn nhân lực du lịch được từng bước bổ sung và tăng cường.
II. Một số tồn tại
1. Những tồn tại
- Sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng trên thị trường du lịch quốc tế còn hạn chế.
Du lịch biển là thế mạnh, nhưng mới hình thành và chưa đủ mạnh để cạnh tranh trong
vùng và quốc tế. Việc xác định sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng của Đà Nẵng
còn chậm. Các di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng chưa được đầu tư, tôn tạo đúng mức
để tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn.
- Các dịch vụ vui chơi, giải trí còn thiếu và kém chất lượng. Các cơ sở hiện có
chỉ phục vụ được khách nội địa là chủ yếu. Điều này ảnh hưởng đến nỗ lực kéo dài
thời gian lưu trú của khách.
- Hàng lưu niệm còn đơn điệu chỉ với một mặt hàng chủ lực là đá mỹ nghệ Non
Nước. Các mặt hàng khác chưa có thương hiệu trên thị trường và chưa được du khách
quan tâm nhiều.
-- 3 of 20 --
- Các dự án đầu tư về du lịch đăng ký nhiều, nhưng triển khai chậm. Một số dự
án bị rút giấy phép đầu tư.
- Thành phố còn thiếu các khách sạn có quy mô lớn, chất lượng cao, Các khách
sạn từ 2 sao trở xuống chiếm 71% tổng số khách sạn trên địa bàn thành phố nên chỉ
đón khách chi trả thấp và phát triển du lịch hội nghị, hội thảo cũng gặp khó khăn. Sức
cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành không cao, chủ yếu là nối tour cho các Hãng lữ
hành tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.
- Công tác xúc tiến du lịch còn hạn chế.
- Môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên bị ô nhiễm; tình hình chèo kéo
khách, vệ sinh môi trường tại các bãi biển và điểm tham quan có tiến bộ nhưng chưa
được đảm bảo thường xuyên.
- Nguồn nhân lực du lịch bị thiếu hụt, nhất là cán bộ quản lý giỏi, chuyên
nghiệp, năng động, thông thạo ngoại ngữ, cán bộ kinh doanh, tiếp thị, xúc tiến du
lịch, tổ chức các sự kiện du lịch. Chất lượng đội ngũ làm du lịch còn thấp (chỉ có
0,32% số lượng người có trình độ trên đại học và 37,74% tốt nghiệp đại học, cao
đẳng; số còn lại có trình độ trung cấp, sơ cấp và chưa qua đào tạo).
2. Nguyên nhân tồn tại
- Về khách quan: Do ảnh hưởng tiêu cực của một số yếu tố biến động về thị
trường: bệnh dịch, bão lũ lớn ở miền Trung.
- Về chủ quan: Du lịch thành phố có xuất phát điểm còn thấp; nhận thức của các
cấp các ngành về vị trí, vai trò của du lịch có mặt còn hạn chế; thiếu chính sách ưu
đãi để thu hút đầu tư; tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ cả về quản lý và kinh doanh
du lịch còn nhiều bất cập.
Phần II
Phương hướng, mục tiêu và các giải pháp phát triển
du lịch thành phố giai đoạn 2007 - 2010
I. Dự báo tình hình
- Về thị trường khách:
Thị trường khách quốc tế: Châu Âu và Bắc Mỹ vẫn còn tiếp tục là khu vực gửi
khách đến nhiều nhất. Tuy nhiên, nhiều khả năng dòng khách này tăng chậm lại. Đối
với châu Âu, thị trường Pháp vẫn ổn định nhưng các thị trường mới như Đức, Ý,
Thụy Sĩ, Nga... tăng nhanh hơn và là một thị trường lớn, du khách chi tiêu cao thường
thích nghĩ dưỡng biển.
Thị trường Mỹ là thị trường tiềm năng. Trong chiến tranh công chúng Mỹ biết
đến Đà Nẵng qua các phim chiếu về các bãi biển tại Đà Nẵng. Khách Mỹ sẽ có khả
năng tăng nhanh trong những năm đến do quan hệ kinh tế, thương mại và hàng không
giữa Việt Nam - Mỹ được cải thiện.
-- 4 of 20 --
Đông Nam Á và Đông Bắc Á là thị trường đầy tiềm năng. Để giữ vững tốc độ
phát triển của lượng du khách giai đoạn 2007-2010, ngay bây giờ thành phố Đà Nẵng
cần có sự định hướng phát triển thu hút dòng du khách của khu vực Đông Nam Á,
trước hết là có chiến lược xây dựng sản phẩm và tuyên truyền quảng bá cho các thị
trường gửi khách các nước Đông Nam Á và Bắc Á, các nước ASEAN, đặc biệt thị
trường khách Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc...
Việc hình thành các tuyến đường xuyên Á, Hành lang kinh tế Đông Tây mà
miền Trung làm cửa ngõ qua cửa khẩu Lao Bảo, Bờ Y sẽ là nhân tố vô cùng thuận lợi
cho việc thu hút khách hay nối tour với các tuyến du lịch của các nước trong vùng
qua Thái Lan và Lào.
Thị trường khách trong nước:
Đây là nguồn khách thường xuyên cần được chú trọng, cần có chính sách kết
hợp giữa du lịch quốc tế và du lịch trong nước, nhằm đạt hiệu quả khai thác khách
cao nhất, đồng thời góp phần nâng cao dân trí đáp ứng nhu cầu thăm quan, giải trí và
nghỉ dưỡng của nhân dân trong nước.
- Với vị thế hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các đơn vị
du lịch trong và ngoài nước. Sản phẩm du lịch thành phố sẽ chịu sự cạnh tranh với
các địa phương lân cận và khu vực.
Do vậy, Đà Nẵng sớm hoàn thiện cơ sở hạ tầng du lịch, thu hút các dự án đầu tư
lớn, nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch thành phố, sớm tạo ra thế và lực mới
trong cạnh tranh phát triển.
II. Phương hướng, mục tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XIX đã xác định: “Đầu
tư phát triển du lịch với vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, tạo nền tảng
để phát triển mạnh các ngành dịch vụ sau năm 2010”.
1. Phương hướng: Ưu tiên phát triển du lịch biển là hướng chủ yếu, đồng thời
phát triển du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái, du lịch công vụ theo hướng xây
dựng sản phẩm đặc thù và có sức cạnh tranh cao ở trong nước và khu vực. Phát triển
du lịch Đà Nẵng gắn với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội thành phố và
quy hoạch tổng thể du lịch cả nước và liên kết chặt chẽ với du lịch miền Trung - Tây
Nguyên và cả nước, đặc biệt là với tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế.
Làm tốt công tác nghiên cứu, xúc tiến thị trường để xác định đối tượng khách
chủ lực của Đà Nẵng để có hướng đầu tư, khai thác thích hợp. Đẩy mạnh khai thác
các thị trường du lịch truyền thống của Đà Nẵng là Châu Âu và Bắc Mỹ. Bên cạnh
đó, xây dựng chiến lược và có kế hoạch khai thác tốt thị trường Đông Nam Á, Đông
Bắc Á, nhất là thị trường Nhật, Trung Quốc, Thái Lan và các khách du lịch qua tuyến
hành lang kinh tế Đông Tây. Khai thác lợi thế đô thị loại 1 và là trung tâm vùng trọng
-- 5 of 20 --
điểm kinh tế Bắc Trung bộ để xúc tiến thị trường khách du lịch nội địa, khách du lịch
công vụ.
2. Mục tiêu: Đến năm 2010 đón được 2 triệu khách du lịch, trong đó có 800.000
khách quốc tế và 1.200.000 khách nội địa. Tốc độ tăng trưởng về lượng khách bình
quân hàng năm từ 2007-2010 đạt 27%, về doanh thu tăng bình quân 29%.
III. Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
1. Tăng cường công tác quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch
a. Quy hoạch
Từ 2007 đến 2010 tiến hành các quy hoạch:
- Rà soát và điều chỉnh qui hoạch tổng thể du lịch theo qui hoạch kinh tế -xã hội
của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020; Qui hoạch chi tiết khu du lịch Bà Nà - Suối
Mơ, bán đảo Sơn Trà, khu làng Vân, khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, mạng lưới
khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, cơ sở bán hàng lưu niệm, phố đi bộ...
b. Đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch
- Nâng cấp 02 tuyến đường du lịch ven biển: Nguyễn Tất Thành và Sơn Trà -
Điện Ngọc để khai thác phục vụ phát triển dân sinh và du lịch (xây dựng cơ sở hạ
tầng, kè và trồng cây xanh…).
- Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại bán đảo Sơn Trà: dự án cấp nước,
đường du lịch ra Bãi Bắc, viễn thông và điện.
- Nâng cấp, mở rộng đường Hoà Khánh - An Lợi. Xây dựng hệ thống cáp treo từ
An Lợi lên đỉnh Bà Nà.
- Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cấp khu danh thắng Ngũ Hành Sơn trở
thành khu du lịch lớn có sức hấp dẫn cao.
c. Triển khai các dự án đầu tư Du lịch
Đẩy mạnh rà soát, đôn đốc triển khai nhanh các dự án đầu tư du lịch hiện có;
Phấn đấu đến năm 2010 có thêm 2.445 phòng; nâng tổng số phòng đến năm 2010 đạt
từ 6.000 - 7.000 phòng.Cụ thể:
- Năm 2007: 06 dự án vào hoạt động, gồm 360 phòng (k/s Queen, Hoàng Anh
Plaza, Danang Riverside, Phú Mỹ Thành, Sơn Trà Spa-giai đoạn 1, KDL Xuân thiều
–giai đoạn 1).
- Năm 2008: 03 dự án, gồm 450 phòng (k/s Hoàng Trà, Green Plaza, KDL Xuân
thiều-giai đoạn 2) .
- Năm 2009: 04 dự án gồm 500 phòng (KDL Sơn Trà Spa-giai đoạn 2, KDL Bãi
Bắc, KDL Olalani-giai đoạn 1, KDL Vina Capital).
-- 6 of 20 --
- 2010: 08 dự án; gồm 1138 phòng (KDL Bãi Trẹm-Savico, Bãi Bụt, Tiên Sa,
Hoàng Anh-Gia Lai, Sơn Trà Spa-giai đoạn 3, Olalani-giai đoạn 2, Saigon-Tourane-
giai đoạn 2, Sao Việt Non Nước).
2. Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
a. Sản phẩm Du lịch biển
- Tổ chức các dịch vụ du lịch trên biển: Dịch vụ lặn biển ngắm san hô, đua
thuyền buồm, lướt ván, mô tô nước, dù bay; đôn đốc triển khai nhanh dự án Coral
Reef… kêu gọi đầu tư xây dựng bến tàu du lịch tại Cảng Đà Nẵng.
- Tại bãi biển: Nâng cao chất lượng Bãi tắm đêm; tiếp tục xây dựng các bãi tắm
du lịch kiểu mẫu. Tổ chức các sự kiện du lịch, thể thao biển. Sắp xếp lại và nâng cao
chất lượng các cơ sở lưu trú, nhà hàng hiện có; nghiên cứu hình thành các khu bán
hàng lưu niệm, giải trí và các dịch vụ phục vụ khách khu vực ven biển. Tổ chức ca
nhạc, khiêu vũ công cộng tại bãi tắm Phạm Văn Đồng. Hình thành dịch vụ vẽ tranh
trên đá tại chỗ cho du khách.
- Tăng cường lực lượng và phương tiện cho Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và
các Bãi biển du lịch để thực hiện tốt công tác quản lý và tổ chức các hoạt động tại các
bãi biển. Ban hành các chính sách thu hút đầu tư các loại hình dịch vụ tại vùng biển
bán đảo Sơn Trà, Làng Vân và đèo Hải Vân nhằm tạo điểm đến cho các tour du lịch
quanh bán đảo Sơn Trà.
b. Sản phẩm Du lịch Văn hoá:
- Nâng cấp các Bảo tàng :
Bao gồm Bảo tàng thành phố, Bảo tàng Quân khu V, Bảo tàng Chàm để đưa vào
chương trình du lịch phục vụ khách. Đặc biệt tại Bảo tàng Chàm, tổ chức chiếu phim
và múa Chăm phục vụ khách. Nâng cao chất lượng thuyết minh viên. Bố trí lại cửa ra
vào, không gian các khu vực trưng bày để trưng bày nhiều hiện vật hơn. Đầu tư tu
sửa tường rào đạt yêu cầu thẩm mỹ; lắp đặt thêm hệ thống chiếu sáng và đèn trang trí
phục vụ khách tham quan vào ban đêm.
- Nâng cấp và đầu tư các dịch vụ tại Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn
+ Tiếp tục đầu tư nâng cấp khu danh thắng Ngũ Hành Sơn thành khu du lịch đặc
trưng của thành phố theo quy hoạch chi tiết đã được thông qua; hình thành một số
điểm tham quan mới; khai thác phía Tây và khu vực sông Cổ Cò vào phục vụ khách
du lịch; lập dự án trung tâm văn hoá du lịch; nâng cấp hang Âm phủ; lắp đặt hệ thống
thang máy phục vụ khách tại hòn Thuỷ Sơn; tăng cường các dịch vụ tại các điểm
dừng chân, nghỉ ngơi của du khách.
+ Quy hoạch lại làng đá thành một khu liên hoàn: có không gian riêng cho từng
khu vực (trong đó phân định rõ giữa nơi ở, nơi sản xuất và nơi bán hàng của các hộ
kinh doanh), thuyết minh, chiếu phim giới thiệu; khách tham gia làm sản phẩm, trưng
bày, mua sắm. Hình thành khu du lịch nghĩ dưỡng tắm bùn, khu giải trí.
-- 7 of 20 --
+ Giáo dục văn minh đô thị, văn minh thương mại cho những người dân tham
gia bán hàng lưu niệm tại khu vực nầy.
- Phát triển dịch vụ múa rối nước phục vụ du khách.
- Tổ chức các lễ hội
Nâng cấp lễ hội Quan Thế Âm, lễ hội cầu Ngư, lễ hội đình làng Hoà Mỹ, lễ tế
Nghĩa Trũng-Khuê Trung; Tổ chức festival làng đá, tiến tới tổ chức định kỳ 1-2
năm/lần.
c. Sản phẩm du lịch sinh thái:
Khu vực đỉnh Sơn Trà
- Có chính sách kêu gọi đầu tư để hình thành trạm dừng chân cho khách tại khu
vực sân bay cũ; trong đó có dịch vụ nhà hàng, cafe, giải khát. Xây dựng vườn thực
vật, vườn thú; hình thành các tour trecking trong khu vực bán đảo Sơn Trà nhằm góp
phần đa dạng tour, tuyến; đặt thêm các bảng hướng dẫn, sơ đồ đường đi phục vụ du
khách.
Khu Du lịch Bà Nà - Suối Mơ
- Mở rộng thêm không gian và dịch vụ tại các khu du lịch, nâng cấp cơ sở lưu
trú hiện có. Lập các dự án kêu gọi đầu tư vào Bà Nà và Suối Mơ. Đào tạo nhân viên
phục vụ chuyên nghiệp trong các cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ cáp treo…
- Nâng cao chất lượng thuyết minh và phong cách giao tiếp cho thuyết minh
viên tại Ban Quản lý.
- Đầu tư các dịch vụ tại Suối Mơ, kết nối với khu du lịch Hoà Bắc, Suối Hoa để
hình thành hình thành các tour du lịch liên hoàn.
d. Du lịch đường sông, làng nghề
- Mở các tuyến du lịch đường sông, biển: Đà Nẵng - Sơn Trà - Làng Vân; Đà
Nẵng - Cù Lao Chàm. Xây dựng các chương trình du lịch vòng quanh bán đảo Sơn
Trà, làng quê dọc sông Trường Định, Hoà Bắc.
- Xây dựng các quầy vé kết hợp cung cấp thông tin du lịch dọc 2 bờ sông Hàn và
các bến đỗ cùng với các dịch vụ phục vụ khách trên đường Trần Hưng Đạo.
- Xây dựng các điểm đến tại Hoà Xuân, Thái Lai, xây dựng các điểm đến quanh
bán đảo Sơn Trà.
- Hình thành đội tàu du lịch đường sông; hình thành dịch vụ bơi thuyền Kayak,
canoeing trên sông Hàn. Đầu tư hình thành đội ca nhạc phục vụ trên các tàu du lịch.
- Quy hoạch và đầu tư làng nghề đá Non Nước và làng nghề truyền thống Cẩm
Nê thành điểm du lịch làng nghề ấn tượng trong tuyến du lịch Hội An - Đà Nẵng -
Huế và ngược lại.
-- 8 of 20 --
e. Du lịch mua sắm, giải trí
- Triển khai xây dựng Sân Golf Hoà Hải và Hoà Ninh
- Quy hoạch và đầu tư khu vực chung quanh Bảo tàng Chàm thành khu trung
tâm du lịch của thành phố với đầy đủ tiện ích phục vụ du khách: hệ thống đèn trang
trí, quầy thông tin du lịch, cơ sở bán hàng lưu niệm…
- Hình thành khu mua sắm chuyên phục vụ khách du lịch tại chợ Hàn, phố đi bộ,
chợ đêm và các dịch vụ trên đường Bạch Đằng và đường Trần Hưng Đạo. Tăng
cường các dịch vụ trên sông để làm sống động khu vực trung tâm về đêm.
- Mở rộng và xã hội hoá Công viên nước thành công viên vui chơi giải trí, dành
cho mọi lứa tuổi và đối tượng; thu hút các loại hình đầu tư: massage, dịch vụ mua
sắm, các dịch vụ khác.
- Đầu tư công viên 29/3 theo hướng mở (tiếp tục tháo dỡ hết các tường rào bao
quanh, xây dựng đường nội bộ vòng quanh, chỉnh trang lại bề mặt công viên ) thành
điểm vui chơi, giải trí công cộng; kết hợp với khu siêu thị trở thành điểm đến cho du
khách. Kết nối tuyến Công viên 29/3 - Bảo tàng Chàm - bãi tắm Phạm Văn Đồng và
Mỹ Khê thành tuyến du lịch liên hoàn.
f. Hình thành các tour du lịch mới
- Duy trì và phát triển các chương trình City tour. Xây dựng các chương trình du
lịch chuyên đề dành cho khách đường biển, đường bộ và đường hàng không, khách
du lịch công vụ, nghỉ dưỡng biển, núi, cựu chiến binh.
- Xây dựng kế hoạch, chương trình hợp tác với tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên
Huế và các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên để khai thác có hiệu quả các di sản thế
giới miền Trung và tài nguyên du lịch đặc sắc của vùng.
- Hình thành tour tham quan khu nghỉ mát Furama, Sandy Beach bán đảo Sơn
Trà bằng xe mui trần.
3. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch Đà Nẵng
a. Cung cấp thông tin du lịch:
- Nâng cao năng lực Phòng Thông tin du lịch tại Ga đến quốc tế và nội địa sân
bay Đà Nẵng; đặt các ki-ôt thông tin du lịch . Đặt các máy tra cứu dữ liệu thông tin
du lịch, pano quảng cáo, biển chỉ dẫn về du lịch tại khu vực Bảo tàng Chàm, đường
Bạch Đằng, trước Nhà hát Trưng Vương và tại các cửa ngõ vào thành phố.
b. Tổ chức các sự kiện, Famtrip, chương trình quảng bá du lịch.
- Tổ chức các sự kiện du lịch thường xuyên của thành phố gồm: Liên hoan Du
lịch “Đà Nẵng - Biển gọi” (2 năm 1 lần); Liên hoan Du lịch Gặp gỡ Bà Nà (hàng
năm); Liên hoan du lịch làng nghề, hội thi tay nghề, hướng dẫn viên…
-- 9 of 20 --
- Tổ chức các chương trình du lịch làm quen dành cho các hãng lữ hành và báo
chí đến Đà Nẵng. Tổ chức Road show du lịch tại Thái Lan, Nhật, Trung Quốc và
Singapore; Tổ chức Hội nghị khách hàng tại TP HCM và Hà Nội.
c. Xuất bản ấn phẩm, Website du lịch:
- Xuất bản sách Cẩm nang du lịch Đà Nẵng; Bản đồ Du lịch Đ