CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên tòa số 1098/2026/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2026 giữa các
Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu P trình bày:
2
Bà Phạm Thị Thu P và Ông Võ N tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào
năm 1997, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện
T, tỉnh Q nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Q theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03,
quyển số 01/1998 ngày 03 tháng 01 năm 1998. Thời gian đầu bà P và ông N chung
sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn do ông N thường
xuyên nhậu nhẹt, chửi mắng, xúc phạm, đánh đập bà P. Bà P đã khuyên nhủ nhiều
lần, nhưng ông N vẫn không thay đổi nên tháng 11/2025 bà P đã dọn ra ngoài thuê
nhà trọ sinh sống và chính thức sống ly thân với ông N. Nay xét thấy tình cảm vợ
chồng không hàn gắn được nên bà P yêu cầu Tòa á n giải quyết cho bà P được ly hôn
với ông N.
Về con chung: Bà P và ông N chung sống với nhau có 01 con chung tên Võ
Thanh N1, sinh ngày 26/9/2002, giới tính nữ đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà P và ông N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa á n giải quyết.
Về nợ chung: Bà P và ông N không có nên không yêu cầu Tòa á n giải quyết.
Bị đơn ông Võ N trình bày:
Ông Võ N thống nhất theo lời trình bày của bà Phạm Thị Thu P về điều kiện
kết hôn của vợ chồng.
Về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do ông N thường xuyên nhậu nhẹt nên
có lời nói xúc phạm, chửi mắng bà P. Hiện ông N và bà P đã ly thân từ tháng 11/2025
đến nay. Trong thời gian ly thân, ông N có nhiều lần đến gặp bà P để thuyết phục bà
P hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng bà P không đồng ý. Ông N vẫn còn thương vợ
con nên ông N không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P. Ông N xin được đoàn tụ.
Về con chung: Ông N và bà P chung sống với nhau có 01 con chung tên Võ
Thanh N1, sinh ngày 26/9/2002, giới tính nữ đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Ông N và bà P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa á n giải quyết.
Về nợ chung: Ông N và bà P không có nên không yêu cầu Tòa á n giải quyết.
Ngày 06/3/2026 ông N có nộp đơn phản tố đề ngày 11/02/2026 tại Tòa án nhân
dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết tài sản chung của vợ
chồng, cụ thể là ông N yêu cầu bà P phải chia cho ông N ½ giá trị nhà đất tại địa chỉ
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.