- Ngày ban hành: 24/12/2025
1
ÁN LỆ SỐ 81/2025/AL1
Về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày
24 tháng 12 năm 2025 và được công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA ngày 25
tháng 12 năm 2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 13/2022/KDTM-GĐT ngày 12/12/2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh
chấp hợp đồng dịch vụ” giữa nguyên đơn là Công ty M với bị đơn là Công ty cổ
phần A.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 5 và 6 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Các bên giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ, sau đó thỏa thuận chấm dứt
hợp đồng. Nguyên đơn (bên cung ứng dịch vụ) yêu cầu bị đơn (bên sử dụng dịch vụ)
trả tiền dịch vụ; bị đơn đồng ý sẽ trả tiền nhưng chưa trả nên nguyên đơn khởi kiện
tại Tòa án yêu cầu bị đơn trả tiền. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Toà án phải xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp
dân sự về đòi lại tài sản và không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Từ khóa của án lệ:
“Hợp đồng dịch vụ”; “Đòi lại tài sản”; “Không áp dụng thời hiệu khởi kiện”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/11/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn là Công ty M trình bày:
Ngày 01/7/2012, Công ty M và Công ty cổ phần A (sau đây viết tắt là Công ty
A) đã ký hợp đồng dịch vụ, theo đó, Công ty M sẽ cử các chuyên gia kỹ thuật để
cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến việc sản xuất bột giấy
Kraft của Công ty A, dựa trên thỏa thuận của 2 bên và pháp luật Nhật Bản (Điều 9
1 Án lệ này do GS.TS. Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất.
-- 1 of 6 --
2
của Hợp đồng).
Từ tháng 7/2012 đến tháng 11/2012, Công ty M đã cử tổng cộng 04 chuyên
gia kỹ thuật tới nhà máy của Công ty A.
Ngày 02/11/2012, Công ty A gửi Văn bản số 319/AHP-HCNS tới Công ty M
về việc đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ; ngày 23/11/2012, Công ty M đồng ý và
hợp đồng dịch vụ được chấm dứt vào ngày 23/11/2012.
Do các phần công việc đã thực hiện và phù hợp với thỏa thuận tại Điều 4 của
Hợp đồng dịch vụ, Công ty M đã phát hành tổng cộng 06 hóa đơn thương mại đối
với phí dịch vụ phải trả từ tháng 7/2012 đến tháng 11/2012 và chi phí phát sinh sau
tháng 11/2012, cụ thể:
STT Hóa đơn
thương mại
Loại chi phí Ngày phát hành Số tiền (Yên Nhật)
1 B743-0090 Phí dịch vụ
tháng 7/2012
15/11/2012 3.559.346
2 B743-0091 Phí dịch vụ
tháng 8/2012
15/11/2012 6.766.683
3 B743-0092 Phí dịch vụ
tháng 9/2012
15/11/2012 4.889.738
4 B743-0093 Phí dịch vụ
tháng 10/2012
05/12/2012 5.461.096
5 B743-0094 Phí dịch vụ
tháng 11/2012
07/01/2013 2.851.871
6 B743-0095 Phí dịch vụ
tháng 12/2012
05/03/2013 2.814.699
Tổng cộng 26.343.433
Sau khi Công ty M phát hành các hóa đơn thương mại, Công ty A chưa có bất
kỳ phản đối nào với nội dung của các hóa đơn thương mại này.
Ngày 08/12/2012 và ngày 27/3/2013 đã diễn ra các cuộc họp trao đổi giữa
Công ty M và Công ty A. Trong cả hai cuộc họp nói trên, Chủ tịch Hội đồng quản
trị của Công ty A đều xác nhận về việc sẽ thanh toán cho Công ty M theo hợp đồng
dịch vụ.
Đến ngày 01/6/2013, Công ty A gửi tới Công ty M Văn bản số 10/AHP-MC-2013
-- 2 of 6 --
3
một lần nữa xác nhận rằng: Dựa trên xác nhận bởi Chủ tịch của chúng tôi, chúng tôi
tại đây khẳng định rằng Công ty A sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho Công ty M.
Công ty M đã liên tục yêu cầu Công ty A thanh toán qua việc gửi các văn bản,
công văn gửi Công ty A (như Văn bản trao đổi hiện trường số SC-MC/AHP-2839,
SC-MC/AHP-2842, các văn bản yêu cầu thanh toán vào các ngày 15/11/2017 và
23/5/2018.
Tuy nhiên, Công ty A chưa thực hiện bất kỳ khoản thanh toán nào đối với phí
và chi phí theo hợp đồng dịch vụ, cụ thể là 26.343.433 Yên Nhật tại các hóa đơn
thương mại.
Công ty A có nghĩa vụ thanh toán theo Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ. Thời hạn
thanh toán như sau:
STT Hóa đơn
thương mại Loại chi phí Ngày phát hành Thời hạn thanh
toán
1 B743-0090 Phí dịch vụ tháng
7/2012
15/11/2012 30/11/2012
2 B743-0091 Phí dịch vụ tháng
8/2012
15/11/2012 30/11/2012
3 B743-0092 Phí dịch vụ tháng
9/2012
15/11/2012 30/11/2012
4 B743-0093 Phí dịch vụ tháng
10/2012
05/12/2012 31/12/2012
5 B743-0094 Phí dịch vụ tháng
11/2012
07/01/2013 31/01/2013
6 B743-0095 Phí dịch vụ tháng
12/2012
05/03/2013 31/3/2013
Do Công ty A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải trả tiền lãi chậm trả theo
Điều 3.5 của Hợp đồng dịch vụ là 10%/năm.
Đề nghị Tòa án buộc Công ty A phải thanh toán tiền theo các hóa đơn thương
mại là 26.343.433 Yên Nhật và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 26/11/2018 là
15.596.274 Yên Nhật. Chuyển đổi sang tiền Việt Nam tương đương 8.762.510.504
đồng Việt Nam.
Bị đơn là Công ty cổ phần A trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty M do đã hết thời hiệu khởi
-- 3 of 6 --
4
kiện, đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết
vụ án.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số
01/2019/QĐST-KDTM ngày 30/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang
quyết định:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2019/TLST-
KDTM ngày 07/01/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” giữa nguyên đơn là
Công ty M với bị đơn là Công ty cổ phần A.
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc.
Trả lại cho Công ty M toàn bộ số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại
sơ thẩm đã nộp là 58.381.255 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000507 ngày 07/01/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang (Do Chi
nhánh Công ty Luật TNHH Q nộp thay).
Trả lại cho nguyên đơn đơn khởi kiện và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi
kiện (nếu có yêu cầu).
Ngày 06/12/2019, Công ty M có đơn kháng cáo.
Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án số 37/2020/QĐ-PT ngày 06/5/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty M; giữ nguyên Quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 01/2019/QĐST-KDTM ngày 30/11/2019
của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Ngày 21/8/2020, Công ty M có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc
thẩm đối với quyết định phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 24/2021/KN-KDTM ngày
23/12/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị đối với Quyết định giải
quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 37/2020/QĐ-PT
ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy quyết định kinh doanh
thương mại phúc thẩm nêu trên và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh
doanh thương mại số 01/2019/QĐST-KDTM ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân
tỉnh Tuyên Quang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí
với quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
-- 4 of 6 --
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 01/7/2012, Công ty M và Công ty A ký hợp đồng dịch vụ, theo đó,
Công ty M sẽ cử các chuyên gia kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ và hướng dẫn kỹ
thuật liên quan đến việc sản xuất bột giấy Kraft của Công ty A, dựa trên thỏa thuận
của 2 bên và pháp luật Nhật Bản (Điều 9 của hợp đồng).
[2] Từ tháng 7/2012 đến tháng 11/2012, Công ty M đã cử tổng cộng 04 chuyên
gia kỹ thuật tới nhà máy của Công ty A. Ngày 02/11/2012, Công ty A gửi tới Công
ty M Văn bản số 319/AHP-HCNS đề nghị chấm dứt hợp đồng dịch vụ. Ngày
23/11/2012, Công ty M và Công ty A thỏa thuận chấm dứt hợp đồng dịch vụ từ ngày
23/11/2012.
[3] Công ty M đã phát hành 06 hóa đơn thương mại đối với phí dịch vụ phải
trả từ tháng 7/2012 đến tháng 11/2012 và chi phí phát sinh sau tháng 11/2012, tổng
cộng 26.343.433 Yên Nhật. Công ty A có nghĩa vụ thanh toán hóa đơn cuối cùng
trước ngày 31/3/2013.
[4] Ngày 01/6/2013, Công ty A có Công văn số 10/AH-MC-2013 do ông Phan
A1, Phó Tổng Giám đốc ký khẳng định lại việc Công ty A sẽ thanh toán chi phí dịch
vụ cho Công ty M theo nội dung cuộc họp trước đó vào ngày 31/5/2013 giữa Công
ty M và Công ty A, cụ thể: “Tiếp theo xác nhận bởi Chủ tịch của chúng tôi, chúng
tôi tại đây khẳng định rằng Công ty A sẽ thanh toán chi phí dịch vụ cho Công ty M.
Khoản thanh toán đó sẽ được thực hiện ngay sau khi các khoản chi phí phát sinh cho
cả hai bên được quyết toán và thống nhất”.
[5] Như vậy, các bên đã có thỏa thuận chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và
Công ty A đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại là
26.343.433 Yên Nhật và tiền lãi chậm trả, tức là các bên không tranh chấp hợp đồng
nữa nên việc Công ty M khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty A phải thanh toán
khoản tiền nêu trên phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án
cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh
doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” là không đúng.
[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường
hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc
thẩm đánh giá không đầy đủ, chính xác các tình tiết nêu trên của vụ án nên chấp nhận
đề nghị của Công ty A về việc áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ đó áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật
Tố tụng dân sự để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343, Điều 345 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015;
-- 5 of 6 --
6
Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 24/2021/KN-KDTM
ngày 23/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án số 37/2020/QĐ-PT ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và
hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 01/2019/QĐST-
KDTM ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về vụ án kinh doanh
thương mại “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” giữa nguyên đơn là Công ty M với bị đơn
là Công ty cổ phần A; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[5]… các bên đã có thỏa thuận chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và Công
ty A đã xác định nghĩa vụ thanh toán tiền theo các hóa đơn thương mại là 26.343.433
Yên Nhật và tiền lãi chậm trả, tức là các bên không tranh chấp hợp đồng nữa nên
việc Công ty M khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty A phải thanh toán khoản tiền
nêu trên phải được xác định là tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản. Tòa án cấp sơ
thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh
thương mại “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” là không đúng.
[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trường
hợp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc
thẩm đánh giá không đầy đủ, chính xác các tình tiết nêu trên của vụ án nên chấp nhận
đề nghị của Công ty A về việc áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ đó áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng dân sự để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp luật.”.
-- 6 of 6 --
Văn bản hành chính địa phương081/2025Ban hành: 24/12/2025Còn hiệu lực
Văn bản 081/2025 (2025)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 081/2025 — Vietnam (2025)
- 中文文件 081/2025 — 越南 (2025)
- 日本語文書 081/2025 — ベトナム (2025)
- 한국어문서 081/2025 — 베트남 (2025)
- FrançaisDocument 081/2025 — Vietnam (2025)
- РусскийДокумент 081/2025 — Вьетнам (2025)
- EspañolDocumento 081/2025 — Vietnam (2025)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Văn bản hành chính địa phương chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.