CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khở i kiệ n đề ngày 25 tháng 11 năm 2025 và lời khai tại Tòa án
tháng 5 năm 2025, chị phát hiệ n anh Võ Mến E có quan hệ với ng ười phụ nữ khác,
cứ nhắn tin, điệ n thoại qua lại, chị có khuyên nhủ anh Võ Mến E nhiều lần nh ưng
anh Võ Mến E không thay đổi mà xảy ra cự cải, mâu thuẫn với chị. Vì vậy, ngày 25
tháng 11 năm 2025, chị đã về nhà cha mẹ ruột ở và ly thân với anh Võ Mến E cho
đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh Võ Mến E có liên lạc nhưng không thể
hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Mến E. Về con chung, chị và anh
Võ Mến E có ba người con chung là cháu Võ Duy K, sinh ngày 11/11/2004 và Võ
Duy K1, sinh ngày 10/11/2012 và cháu Võ Thị Ngọc T, sinh ngày 06/8/2019, hiện
nay cháu K, cháu K1 và cháu T đang sống chung với anh Võ Mến E. Khi ly hôn, đối
với cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị đồng ý giao
cháu Võ Duy K1 và cháu Võ Thị Ngọc T cho anh Võ Mến E tiếp tục trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị không cấp dưỡng nuôi con. Hiệ n nay cháu Võ
Duy K1 và cháu Võ Thị Ngọc T đang sống với anh Võ Mến E. Về tài sản chung, nợ
chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Mến E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng
mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
Đại diệ n Việ n kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phá n và Hội đồng xét
xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
quyề n và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiệ n đúng quy định tại khoản 15,
16 Điề u 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điề u 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014, giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kiều C ly hôn với anh Võ Mến E. Về con
chung, giao cháu Võ Duy K1, sinh ngày 10/11/2012 và cháu Võ Thị Ngọc T, sinh
ngày 06/8/2019 cho anh Võ Mến E tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục, riêng cháu Võ Duy K, sinh ngày 11/11/2004 đã trưởng thành, đương sự không
yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị Kiều C có quyề n, nghĩa vụ
thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung
không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, chị Nguyễn Thị
Kiều C phải chịu 300.000 đồng.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.