Điều 38. Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 06 năm 06 tháng
đến 07 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo
được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số
tiền bị cáo chiếm đoạt đã được khắc phục hoàn toàn, trả cho bị hại, bị hại có đơn đề
nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bị cáo, áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật
hình sự, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện
kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-- 5 of 8 --
6
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của của bị cáo Nguyễn Xuân T đảm bảo hình
thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự,
thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan tại cơ quan điều tra, tại phiên
tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết
quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 18/5/2025 tại số nhà A ngách F phố T, phường K, thành phố Hà Nội,
anh Nguyễn Đức T2 đã cho Nguyễn Xuân T thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai
Santafe màu bạc BKS: 30E-769.56 với mục đích sử dụng đi lại. Hai bên ký kết Hợp
đồng thuê ô tô, thời hạn thuê xe là 03 tháng từ ngày 18/5/2024 đến ngày 18/8/2024,
giá thuê 25.000.000 đồng/tháng. Sau khi thuê được xe, do cần tiền để chi tiêu, chiều
ngày 18/5/2024, T nảy sinh ý định mang xe ô tô đi cầm cố. T liên hệ với anh Vũ
Tiến Đ1 và nói dối anh Đ1 là Công ty của T có chiếc xe oto nhãn hiệu Huyndai
Santafe màu bạc BKS: 30E-769.56, do cần tiền để giải quyết việc Công ty nên T
muốn cầm cố chiếc xe trong thời hạn 10 ngày để lấy 300.000.000 đồng, anh Đ1 đồng
ý. Hết thời hạn thuê xe, để anh T2 không biết việc T đã mang xe đi cầm đồ, T xin
gia hạn thuê xe thêm 02 tháng. Đến tháng 12/2024, anh T2 nhiều lần yêu cầu T trả
xe nhưng T không trả.
Như vậy, bị cáo thuê xe để sử dụng sau đó do cần tiền chi tiêu, bị cáo mới nảy
sinh ý định chiếm đoạt tài sản và thực hiện hành vi mang xe đi cầm cố. Hành vi của
bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tòa án sơ thẩm
cần rút kinh nghiệm, nhận định đúng hành vi phạm tội của bị cáo để xác định tội
danh cho chính xác. Với giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 600.000.000 đồng, bị
cáo Nguyễn Xuân T bị xét xử về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", tội
danh và hình phạt quy định khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng
người đúng tội, không oan.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ với giá trị rất lớn. Hành vi của bị cáo cần phải
truy tố xét xử nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Khi quyết
định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá tính chất, mức độ
-- 6 of 8 --
7
hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức
hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên mức xử phạt bị cáo mức án 10 năm 06 tháng tù
là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ về hậu quả bị cáo đã khắc phục bồi thường được toàn
bộ cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại giai
đoạn điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân
thân chưa có tiền án tiền sự. Gia đình có công với Cách mạng, bản thân bị cáo được
chính quyền địa phương xác nhận có nhiều đóng góp cho địa phương. Bị cáo có
nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1