Mục lục - 3 điều ▼
Điều 58. Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Vũ Trường G từ 12 tháng đến 18
tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 và
Điều 58. Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Quyết C từ 12 tháng đến 18 tháng tù
về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận, bà Trần Thị N đã nhận lại tài sản bị mất
trộm và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106
Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe lôi tự chế
là 01 xe mô tô không biển số, không xác định số máy, số khung có gắn thùng lôi tự
chế phía sau (đã qua sử dụng); 01 điện thoại Apple Iphone 8, màu kem, số Seri:
F4HX9B9JJC69, bị bể mặt lưng (đã qua sử dụng); 01 điện thoại Viettel, màu xám,
số IMEI 1: 863366070391447, số IMEI 2: 863366070391454 (đã qua sử dụng).
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh luận tội, các
bị cáo không tranh luận và không kêu oan.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, Kiểm
sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Đặng Vũ Trường G thừa nhận hành vi phạm tội như
sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20-11-2025, tại ấp Tân Đông, xã Tân Thành, tỉnh
Tây Ninh, Đặng Vũ Trường G và Lê Quyết C đã bàn bạc cùng nhau, lén lút lấy
trộm 4,14 tấn củi cao su của bà Trần Thị Nga, trị giá 6.210.000 đồng để bán lấy
tiền tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện. Đối với bị cáo Lê Quyết C, tại phiên toà
không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng chỉ làm công bốc vác cho bị cáo G.
Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
[2.1] Sau khi kiểm tra chi tiết điện thoại di động (Bút lục số 41-45) thì tại
Biên bản ghi lời khai ngày 22-11-2025 (Bút lục số 21), bị cáo C khai: “hôm đó tôi
với G đã bàn với nhau móc nối với người canh đám cao su đang cưa cắt tại khu
-- 5 of 9 --
6
vực nhà máy mủ Minh Hữu ở khu vực Đồng Rùm để cho cho chúng tôi lấy trộm củi
sẽ cho người canh giữ ở đó 300.000 đồng/1 chuyến, sau đó một mình tôi đi đến khu
vực đó để nói chuyện thỏa thuận với người canh nhưng người ta không chịu”.
[2.2] Tại Biên bản ghi lời khai ngày 21-11-2025 (Bút lục số 32), bị cáo C
khai: “Vào lúc 18 giờ hơn ngày 20/11/2025, tôi đang ăn cơm ở nhà với cha tôi thì
G điện thoại mesenger cho tôi với tên Nhóc G nói tôi đi làm không, đi bốc củi với
G tôi đồng ý đi…do anh em chơi đã lâu nên tôi không hỏi nhiều đồng ý đi với
G…Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày. Tại nhà G, tôi cùng G đi xe mô tô có gắn
thùng lôi (xe lôi) đi lúc này G chở tôi đi đến cặp đường nhựa thì dừng lại bên dưới
đường nhựa có đống gỗ cao su dạng cưa thành đoạn, lúc này tôi cùng với G cùng
nhau chất củi lên xe lôi của G, chất được 3 chuyến đi đến khu vực đường đất đỏ thì
đổ tập kết. Tộng cộng tôi và G lấy được 04 xe lôi củi và chất thành 02 đống ở
đường đất đỏ”.
[2.3] Biên bản hỏi cung bị can ngày 14-12-2025 (Bút lục 109-110), bị cáo C
khai: “Tôi biết mình bị khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1
Điều 173. Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội, không có oan, sai… Tôi (C) cho
biết, động cơ mục đích trộm bao bì cao su ngày 20/11/2025 là do không có tiền
tiêu xài cá nhân, ngoài cùng G thì tôi không cùng ai khác tham gia lấy trộm bao bì
cao su… vào hôm đó tôi với G bàn với nhau móc nối với người canh đám cao su
đang cưa cắt tại khu vực nhà máy mủ Minh Hữu ở khu vực Đồng Rùm để cho
chúng tôi lấy trộm củi cao su sẽ cho người canh giữ ở đó 300.000 đồng/1 chuyến,
sau đó một mình tôi đi đến khu vực đó để nói chuyện thỏa thuận với người canh
nhưng người ta không chịu”.
[2.4] Biên bản hỏi cung bị can ngày 14-12-2025 (Bút lục 101-102), bị cáo G
khai: “Vào lúc 18 giờ ngày 20/11/2025, tôi đi chơi uống cà phê một mình từ khu
vực ấp Đồng Kèn 2 về đến khu vực ấp Tân Đông thì nhìn thấy cặp bên đường nhựa
có đống bao bì cao su…nên tôi nảy sinh ý định trộm đem bán lấy tiền tiêu
xài…khoảng 22 giờ cùng ngày, tôi có điện thoại cho C và đi lấy trộm bao bì cao su
cùng tôi đem bán tôi sẽ cho C 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng) mỗi chuyến. Khi tôi
nói vậy thì C đồng ý”.
[2.5] Xét các bị cáo C và G là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm
hình sự, không có nghề nghiệp ổn định, từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và
bị đưa đi cai nghiện ma túy nhiều lần. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội ngày
20-11-2025 thì ngày 15-11-2025, bị cáo C đã cùng với bị cáo G bàn bạc để đi trộm
củi và một mình bị cáo C là người đi thỏa thuận với người khác để trộm củi nhưng
không thành, bị cáo đã có mục đích đi trộm củi cao su từ trước. Do đó vào ngày
20-11-2025, khi bị cáo G điện thoại qua ứng dụng facebook Mesenger để đi trộm
củi với tiền công là 300.000 đồng/chuyến thì bị cáo C đã đồng ý ngay. Về hành vi
khách quan, bị cáo C và bị cáo G chất củi vào ban đêm (khoảng 22 giờ 30 phút),
không sử dụng đèn pin, đèn chiếu sáng hoặc thiết bị chiếu sáng nào mà chỉ có dụng
cụ là xe lôi, bị cáo C và G đã chất tổng cộng 04 xe lôi củi, chở đi đến khu vực ít
dân cư qua lại (thể hiện tại Sơ đồ hiện trường, bút lục số 12), di chuyển từ vị trí
-- 6 of 9 --
7
chất củi đến khu vực đường đất đỏ liên ấp Tân Đông - ấp Đồng Kèn 1, xã Tân
Thành, tỉnh Tây Ninh tập kết tại đây và chia thành 2 đống, chất tại 2 vị trí khác
nhau khoảng 02 km. Các bị cáo không chở thẳng về địa điểm bán củi mà các bị cáo
đã tập kết lại nơi khác nhằm mục đích che dấu hành vi phạm tội.
[2.6] Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù
hợp với sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, hành vi khách quan, động cơ, mục
đích phạm tội của các bị cáo và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ
án, đồng thời tại phiên toà sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 -
Tây Ninh luận tội, các bị cáo không tranh luận và không kêu oan. Từ phân tích và
chứng cứ trên đã đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đặng Vũ Trường G và Lê Quyết C
phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như
luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp
xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là
vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù,
cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ sức răn đe, trừng
trị và phòng ngừa tội phạm.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết bị cáo G thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự; bị cáo C không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tái
phạm thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1