- Ngày ban hành: 05/02/2020
1
ÁN LỆ SỐ 36/2020/AL1
Về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
ngày 05 tháng 02 năm 2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA
ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 05/2018/KDTM-GĐT ngày 18-5-2018 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh
chấp hợp đồng tín dụng” tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giữa nguyên đơn là Ngân hàng
Thương mại Cổ phần V với các bị đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 2, 3 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tuân thủ quy định của pháp luật
nhưng sau đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ do sai sót về
diện tích đất và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc thu
hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng
đất hợp pháp của người sử dụng đất.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, phải xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có
hiệu lực pháp luật.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Các điều 322, 343 Bộ luật Dân sự năm 2005; các điều 342, 411 Bộ luật
Dân sự năm 2005 (tương ứng với các điều 317, 408 Bộ luật Dân sự năm 2015);
- Các điều 61, 62 Luật Đất đai năm 2003; các điều 46, 106 Luật Đất đai
năm 2003 (tương ứng với các điều 95, 167 Luật Đất đai năm 2013).
Từ khóa của án lệ:
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ”; “Hiệu lực của
hợp đồng thế chấp”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-5-2011 và trong quá trình tố tụng, Ngân hàng
Thương mại Cổ phần V khai: Ngày 22-3-2010, Ngân hàng V ký kết Hợp đồng tín
dụng số 10.36.0015 với ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T. Theo đó, Ngân hàng V
cho ông C, bà T vay 900.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 12%/năm; lãi suất quá
hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời hạn vay 12 tháng. Để bảo đảm cho khoản
1 Án lệ này do PGS.TS Đỗ Văn Đại, Trưởng khoa Luật Dân sự Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành viên
Hội đồng tư vấn án lệ đề xuất.
-- 1 of 5 --
2
vay thì ông C, bà T đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng thửa đất diện tích
3.989,7m2 thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05 xã H, thị xã B (Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số Đ544493 do Uỷ ban nhân dân thị xã B cấp ngày 14-7-2004)
theo Hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010. Giao dịch bảo đảm đã
được đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã B ngày 19-3-2010.
Sau khi vay tiền, ông C, bà T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với
ngân hàng V. Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu ông C và bà T trả toàn bộ số nợ
1.449.537.500 đồng (trong đó 900.000.000 đồng tiền gốc và 549.537.500 tiền lãi
tạm tính đến ngày 17-7-2013 và lãi phát sinh đến ngày trả nợ).
Trong quá trình Hợp đồng thế chấp đang có hiệu lực thì Uỷ ban nhân dân thị
xã B ban hành Quyết định số 3063/QĐ-UBND ngày 31-8-2011 thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số Đ544493. Tuy nhiên, Ngân hàng V xác định dù Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ544493 không còn nhưng quyền sử dụng diện
tích 2.400m2 đất mà ông C, bà T nhận chuyển nhượng trước đây (sau khi điều chỉnh
theo thực tế) đã hoàn thành nên vẫn có giá trị bảo đảm cho khoản vay của ông C,
bà T. Ngân hàng V sẽ đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B ưu tiên phát
mãi thanh toán cho Ngân hàng V.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông xác nhận các thông tin về Hợp
đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp như Ngân hàng V trình bày là đúng. Sau khi
vay, ông đã thanh toán cho Ngân hàng V một phần nợ lãi là 122.775.000 đồng,
chưa thanh toán tiền gốc và ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V.
Ông và bà T đã khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số
3063/QĐ-UBND ngày 31-8-2011 của Uỷ ban nhân dân thị xã B. Tuy nhiên, Tòa
án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều không chấp nhận yêu cầu của ông,
bà nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật vì tài sản bảo
đảm hiện nay không còn.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2013/KDTM-ST ngày
10-12-2013, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:
Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần V - Chi nhánh B số tiền 1.449.537.500 đồng, trong đó 900.000.000
đồng tiền gốc và tiền lãi là 549.537.500 đồng.
Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 được ký kết
giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh B với ông Nguyễn Văn C
và bà Vũ Thị T về việc thế chấp diện tích đất 3.989,7m2 thuộc thửa đất số 12, tờ
bản đồ số 05 xã H, thị xã B, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ544493
do Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là Ủy ban nhân dân thành phố B) cấp ngày
14-7-2004 đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T vô hiệu. Do đó, không
có giá trị đảm bảo việc thanh toán nợ cho Hợp đồng tín dụng số 10.36.0015 ngày
22-3-2010.
Ngày 23-12-2013, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh B có
đơn kháng cáo.
-- 2 of 5 --
3
Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 48/2014/KDTM-PT ngày
15-8-2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã
quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
- chi nhánh B; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
04/2013/KDTM-ST ngày 10-12-2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi
nhánh B về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn C và bà
Vũ Thị T.
- Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần V - Chi nhánh B số tiền 1.449.573.500 đồng, trong đó tiền gốc là
900.000.000 đồng và tiền lãi là 549.573.500 đồng.
- Tuyên bố hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 ký kết giữa
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V - Chi nhánh B với ông Nguyễn Văn C và bà
Vũ Thị T về việc thế chấp diện tích 3.989,7m2 thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 5
xã H, thị xã B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ544493 do Uỷ ban
nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) cấp ngày 14-7-2004 đứng tên ông Nguyễn
Văn C và bà Vũ Thị T vô hiệu. Không có giá trị đảm bảo việc thanh toán nợ cho
hợp đồng tín dụng số 10.36.0015 ngày 22-3-2010.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Sau khi xét xử phúc thẩm, Ngân hàng V có đơn đề nghị xem xét theo thủ
tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên.
Ngày 15-8-2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án kinh
doanh, thương mại phúc thẩm số 48/2014/KDTM-PT của Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về phần tuyên bố Hợp đồng thế chấp
số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 vô hiệu; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy một phần Bản án kinh doanh thương mại
phúc thẩm nêu trên và hủy một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
04/2013/KDTM-ST ngày 10-12-2013 của Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
về phần tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 vô hiệu; giao
hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo
quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề
nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Kháng nghị của
Chánh án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngân hàng V và ông Nguyễn Văn C cùng xác nhận giữa Ngân hàng V
và ông Nguyễn Văn C, bà Vũ Thị T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 10.36.0015
ngày 22-3-2010 và Hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010. Tài sản thế
chấp là diện tích đất 3.989,7m2 thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05 xã H, thị xã B,
-- 3 of 5 --
4
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ544493 do Ủy ban nhân dân thị xã B
cấp ngày 14-7-2004 đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Vũ Thị T. Tài sản được
đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã B
ngày 19-3-2010. Theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm c
khoản 1 Điều 10 và điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, việc thế chấp quyền sử dụng
đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
[2] Ngày 31-8-2011, Ủy ban nhân dân thị xã B đã ban hành Quyết định số
3063/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
Đ544493 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 14-7-2004 mang tên ông Nguyễn
Văn C và bà Vũ Thị T. Việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nêu trên do có sai sót về diện tích đất và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông C, bà T. Tuy nhiên việc thu hồi, hủy bỏ Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng hợp pháp phần đất
đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông C, bà T, vì việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trần Thị Ngọc H, ông Trần Huỳnh L và vợ chồng
ông C, bà T đã hoàn tất, các bên không có tranh chấp gì về Hợp đồng chuyển
nhượng này.
[3] Mặt khác, trước khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng
ông C, bà T bị thu hồi, ông C, bà T đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân
hàng nhiều lần để vay tiền, gần nhất là ngày 19-3-2010. Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà T với Ngân hàng tuân thủ đúng quy định pháp
luật nên Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp
phúc thẩm căn cứ Điều 411 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho rằng Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 nêu trên vô hiệu do đối tượng
của Hợp đồng thế chấp này không còn là không đúng.
[4] Tại Công văn số 887/CNVPĐK-ĐKCG ngày 28-3-2017, Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố B xác định: Sau khi Ủy ban nhân dân thị xã B
ban hành Quyết định số 3063/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số Đ544493 và Bản án hành chính phúc thẩm số
01/2013/HC-PT ngày 04-01-2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
có hiệu lực pháp luật thì Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B đã có các Quyết
định thi hành án theo các bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật mà bà Trần Thị
Ngọc H có nghĩa vụ phải thi hành. Theo đó, đã tổ chức bán đấu giá tài sản diện tích
2.741,1m2 đất thuộc thửa 386 tờ bản đồ số 05 xã H. Ông Bùi Văn C1 là người trúng
đấu giá quyền sử dụng diện tích 2.747,1m2 đất. Ngày 14-3-2016, Ủy ban nhân dân
thành phố B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA959055 đối với
diện tích trúng đấu giá nêu trên cho ông Bùi Văn C1.
[5] Do vậy, để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các đương sự, khi giải quyết
lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần phải căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng
dân sự để đưa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, bà Trần Thị Ngọc H, ông
Bùi Văn C1 và Ủy ban nhân dân thành phố B vào tham gia tố tụng với tư cách là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới giải quyết toàn diện và triệt để vụ án.
-- 4 of 5 --
5
Vì các lẽ trên;
QUYẾ T ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 137, khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 17/2017/KN-KDTM
ngày 04-8-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Hủy một phần Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số
48/2014/KDTM-PT ngày 15-8-2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
tại thành phố Hồ Chí Minh và hủy một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ
thẩm số 04/2013/KDTM-ST ngày 10-12-2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu đối với vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân
hàng thương mại cổ phần V với bị đơn là ông Nguyễn Văn C, bà Vũ Thị T, về phần
tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 vô hiệu.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại
theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[2] Ngày 31-8-2011, Ủy ban nhân dân thị xã B đã ban hành Quyết định
số 3063/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số Đ544493 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp ngày 14-7-2004 mang tên ông
Nguyễ n Văn C và bà Vũ Thị T. Việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nêu trên do có sai sót về diện tích đất và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông C, bà T. Tuy nhiên việc thu hồi, hủy bỏ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không làm mất đi quyền sử dụng hợp pháp
phần đất đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông C, bà T, vì việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà Trần Thị Ngọc H, ông Trần Huỳnh L
và vợ chồng ông C, bà T đã hoàn tất, các bên không có tranh chấp gì về Hợp đồng
chuyển nhượng này.
[3] Mặt khác, trước khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng
ông C, bà T bị thu hồi, ông C, bà T đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Ngân
hàng nhiều lần để vay tiền, gần nhất là ngày 19-3-2010. Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà T với Ngân hàng tuân thủ đúng quy định
pháp luật nên Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa
án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 411 Bộ luật Dân sự năm 2005 cho rằng Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất số 10.36.0015 ngày 18-3-2010 nêu trên vô hiệu do
đối tượng của Hợp đồng thế chấp này không còn là không đúng.”
-- 5 of 5 --
Văn bản hành chính địa phương036/2020Ban hành: 05/02/2020Còn hiệu lực
Văn bản 036/2020 (2020)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 036/2020 — Vietnam (2020)
- 中文文件 036/2020 — 越南 (2020)
- 日本語文書 036/2020 — ベトナム (2020)
- 한국어문서 036/2020 — 베트남 (2020)
- FrançaisDocument 036/2020 — Vietnam (2020)
- РусскийДокумент 036/2020 — Вьетнам (2020)
- EspañolDocumento 036/2020 — Vietnam (2020)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Văn bản hành chính địa phương chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.