CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcvụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2026, giữa
chồng là ông Đào Văn B.
Về con chung: Bà Đặng Thị Kim N và ông Đào Văn B có 01 người con
chung tên Đào Tấn K, sinh ngày 03/9/2012 (giới tính nam), hiện do bà N nuôi dạy.
Khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không đặt ra yêu cầu ông B cấp
2
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đặng Thị Kim N xác định bà và ông Đào Văn B không
có nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Bà Đặng Thị Kim N xác định bà và ông Đào Văn B không có nên
không đặt ra yêu cầu xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:
[1.1] Bà Đặng Thị Kim N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đào Văn
B. Đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Đào Văn B có nơi
cư trú tại ấp B, xã TL, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau
theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Ông Đào Văn B đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng
mặt không có lí do, bà Đặng Thị Kim N xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, xét xử
vắng mặt bà N và ông B theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim N và ông Đào Văn B tự nguyện chung
sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2012 tại UBND xã TL, tỉnh Cà
Mau, vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên bà N yêu cầu được ly hôn với
chồng là ông Đào Văn B. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông B đã tuân
thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy
định tại Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.