CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
chồng cụ M, cụ B quản lý và sử dụng. Năm 1993, cụ M kê khai vào sổ mục kê địa
1 Án lệ này do Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
2
chính thuộc tờ bản đồ số 10D, thửa số 809 và 810, được Ủy ban nhân dân huyện
C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 1994, 1995, ông Nguyễn Văn U ra ở riêng trên phần đất tại ấp A, xã
T, huyện P, còn bà chung sống với cha mẹ từ nhỏ và quản lý, sử dụng phần đất
32.500m2 nêu trên từ đó cho đến nay.
Ngày 16/5/1998, cụ M lập di chúc để lại cho bà phần đất 15 công tầm cấy,
còn 10 công thì ai thờ cúng ông bà sẽ được hưởng. Khi lập di chúc cụ M vẫn còn
minh mẫn. Năm 2000, ông U giả mạo chữ ký của cụ M để làm giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên ông U mà bà không biết.
Năm 2004, cụ B họp các con trong gia đình và thống nhất cho bà toàn bộ
32.500m2 đất để bà quản lý và thờ phụng ông bà, Biên bản họp gia đình có Ủy
ban nhân dân xã T chứng thực.
Năm 2006, cụ B tiếp tục lập di chúc cho bà toàn bộ phần đất nêu trên. Sau
khi cụ B chết, bà vẫn quản lý và sử dụng đất cho đến nay. Tuy nhiên, năm 2016,
ông U ngăn cản không cho bà sử dụng đất và cho rằng đất này ông U đã được cha,
mẹ cho.
Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông U ngày 15/11/2000 và công nhận
quyền sử dụng đất cho bà theo di chúc đối với phần đất có diện tích 32.500m2 (đo
đạc thực tế là 35.180,7m2). Căn nhà có trên đất là của cụ M và cụ B, ông U chỉ là
người đứng ra xây dựng khi còn ở chung với cha mẹ, khi ông U đi nơi khác thì bà
sử dụng và có sửa chữa lại.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn U trình bày:
Ông thống nhất về quan hệ huyết thống như lời trình bày của bà G.
Nguồn gốc đất tranh chấp do cụ M, cụ B khai phá từ năm 1950. Năm 1983,
bà G cất nhà tạm ở mặt tiền phần đất tranh chấp để buôn bán, còn ông là con trai
út tiếp tục chung sống, chăm sóc cha mẹ và trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Khoảng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.