tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Vương Đình T
kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có
đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã
H, thành phố Hải Phòng) ngày 28/7/2017. Do vậy, hôn nhân của chị D và anh T
là hợp pháp. Sau hơn một năm chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân là do không hợp nhau về tính cách và quan điểm sống, thường xảy
-- 4 of 7 --
5
ra cãi vã, không có tiếng nói chung. Năm 2020, chị D đã đưa con về nhà bố mẹ
đẻ chị D tại thôn T, xã H, thành phố Hải Phòng ở. Anh T sau đó đi sang N lao
động. Vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Gia đình
đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không được. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập anh T
đến Tòa án nhiều lần, nhưng anh T không đến, không gửi văn bản thể hiện ý
kiến, thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử
thấy rằ ng việc chị D, anh T từ năm 2020 đến nay không sống chung, yêu
thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công
việc gia đình, đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn
nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do
vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận
yêu cầu của chị D xin ly hôn với anh T.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vương Đình Nhật N,
sinh ngày 13/8/2017. Xét điều kiện, hoàn cảnh hiện tại, cháu N đang do chị D
trực tiếp nuôi dưỡng từ nhỏ đến nay. Cháu khỏe mạnh và được chị D chăm sóc,
nuôi dưỡng và cho học hành đầy đủ. Chị D có quan điểm đề nghị được tiếp tục
trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Quan điểm của chị D phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của vợ chồng và phù hợp với nguyện vọng muốn được tiếp tục ở với mẹ
của cháu N. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và
gia đình, chấp nhận theo yêu cầu của chị D; tiếp tục giao con chung Vương Đình
Nhật N cho chị D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi để
đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung.
Anh T không trực tiếp nuôi con, có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với chị
D. Hiện nay, mức lương tối thiểu vùng tại xã H là 4.730.000đ/tháng. Căn cứ vào
thu nhập, khả năng thực tế của chị D, anh T và nhu cầu thiết yếu của con chung,
Hội đồng xét xử thấy rằ ng: Chị D tự nguyện chỉ yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ
cấp dưỡng nuôi con chung với chị mỗi tháng là 2.000.000 đồng, kể từ tháng
4/2026 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Yêu cầu này của chị D không trái pháp
luật và đạo đức xã hội, phù hợp với quy định Điều 82, Điều 83, Điều 110, khoản
1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
-- 5 of 7 --
6
[5] Về án phí: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 17 Luật
phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016.
Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng
theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a
khoản 6 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuy
nhiên, chị D tự nguyện chịu cả án phí cấp dưỡng nuôi con. Quan điểm của chị D
là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, khoản 1