CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 09 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét
2
- Nguyên đơn Nguyễn Bửu Ngọc P trình bày:
Bà P và ông T1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2022, có đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M nay là phường T, tỉnh Đồng Tháp.
Thời gian đầu bà P, ông T1 sống hạnh phúc. Đến 2023n bà P chuẩn bị sinh con
nên về gia đình và sau khi sinh con bà P cùng với ông T1 thuê phòng trọ tại
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh chung sống. Thời điểm đó bà P ở nhà chăm
con, ông T1 đi làm thì cuộc sống chung của bà P và ông T1 phát sinh nhiều mâu
thuẫn do bất đồng ý kiến việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên thường
xuyên xảy ra tranh cãi, những lúc gây nhau ông T1 nhiều lần có lời lẽ xúc phạm,
đánh và đuồi bà P. Gần nhất khoảng tháng 6/2025 tay của con bị bỏng do trúng
nước nóng ông T1 mắng và đánh bà P nên bà P về gia đình sống cho đến nay.
Bà P không còn tình cảm vợ chống với ông T1, không thể tiếp tục cuộc sống
chung nên yêu cầu được ly hôn với ông T1. Bà P và ông T1 có 01 con chung Võ
Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 02/02/2024 đang ở cùng với ông T1 tại phòng trọ.
Trong thời gian bà P, ông T1 sống ly thân, bà P đến thăm con thì ông T1 cản trở
không cho gặp vì nói thăm con nhưng không báo trước, cho rằng bà P có ý định
bắt con đem đi đâu không rõ nên không cho gặp con. Hiện con còn nhỏ, là con
gái rất cần mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng và ông T1 làm công việc giao hàng nên
không có đủ thời gian chăm con. Những khi ông T1 đi làm phải nhờ mẹ của ông
T1 ở gần bên giữ con dùm. Hiện bà P có việc làm, có thời gian nghỉ trong tuần
nên chủ động, sắp xếp được nhiều thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con chung
Quỳnh A. Do đó bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Quỳnh A,
yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Nhưng tại phiên tòa,
ông T1 trình bày mức cấp dưỡng nuôi con bà P yêu cầu nêu trên là cao do ông
T1 nuôi con chi phí đủ khoảng 1.500.000 đồng/tháng nên bà P thống nhất với ý
kiến của ông T1 mức cấp dưỡng cho con là 1.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Bà P và ông T1 tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án ghi
nhận về chia tài sản chung, cụ thể:
Ông T1 sở hữu tài sản đang quản lý gồm: 01 dây chuyền vàng 24K, trọng
lượng 03 chỉ; 01 đôi bông cưới vàng 18k, không rõ trọng lượng; 01 nhẫn vàng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.