CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcĐắk Lắk (vắng mặt).
bà T nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm
sống, không có tiếng nói chung trong việc chăm sóc nuôi dạy con cái và ông
Nghiêm cho rằng bà T chăm sóc con không tốt dẫn đến con chung bị bệnh chất từ
năm 2015 nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Do đó b T xét thấy
cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mâu
thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ cuối
năm 20 7 đến nay, mỗi người sống một nơi nên bà T l m đơn với nguyện vọng xin
được ly hôn với ương Văn N.
- Về con chung: Không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
nhiều lần nhưng ương Văn N đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều
209 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành phiên họp và hòa giải vắng mặt
đối với bị đơn ương Văn N. Căn cứ Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS),
Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo qu định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) Thư ký ngu ên đơn đã
thực hiện đúng v đầ đủ các qu định của BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án, bị
đơn ương Văn N mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia phiên
tòa là vi phạm qu định tại Điều 70 Điều 72 Điều 227 v Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
3
Về nội dung: Áp dụng khoản Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình đề nghị
HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Long Thị T; về hôn nhân: cho bà
Long Thị T được ly hôn với ương Văn N; về con chung không có con chung nên
không đặt ra để giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu
nên không đặt ra để giải quyết; về án phí ngu ên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn
sơ thẩm theo qu định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.