Mục lục - 3 điều ▼
Điều 47. của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
-- 6 of 14 --
7
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng bìa cát tông, màu nâu được niêm
phong dán kín, bên trong đựng toàn bộ số pháo hoa nổ, có tổng khối lượng
17,127 kg; 01 (một) thùng bìa cát tông, màu nâu được niêm phong dán kín, bên
trong đựng toàn bộ số pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 6,868 kg; 01 (một) thùng
bìa cát tông, màu nâu được niêm phong dán kín, bên trong đựng toàn bộ số pháo
hoa nổ, có tổng khối lượng 0,553 kg và 02 sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo
Nguyễn Văn C và Trần Thanh T.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 12 Promax đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone Xs Max; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vairo 125, màu sơn
xanh đen, số khung MH1JA4658RK042844, số máy JA69E5042901, biển kiểm
soát 35K1-654.23 thu giữ của bị cáo Trần Thanh T và số tiền 22.500.000 đồng
thu giữ của bị cáo Đ và T.
Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 136 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị
cáo Phạm Văn Đ; bị cáo Trần Thanh T, Nguyễn Văn C phải nộp án phí hình sự
sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn Đ, Trần Thanh T, Nguyễn Văn C thừa
nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên cáo trạng của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố, xét xử là đúng người đúng tội.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ có quan điểm:
Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình truy tố về
tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật
Hình sự là đúng người, đúng tội. Sau khi phân tích nguyên nhân dẫn đến hành vi
phạm tội của bị cáo người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình
điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia
đình thuộc diện hộ cận nghèo, bản thân đang bị ung thư giai đoạn 3, phạm tội
mang tính chất giản đơn, đã ly hôn vợ, là lao động chính trong gia đình, đã tự
nguyện nộp lại toàn bộ số tiền do phạm tội mà có là các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình
sự cho bị cáo mức án thấp nhất như mức đề nghị của Kiểm sát viên và miễn hình
phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và
xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội trở thành người có
ích cho xã hội.
-- 7 of 14 --
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời
khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan
điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời
khai của người làm chứng. Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng
Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh N lập ngày 27/12/2025 (BL 1-3); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị
tạm giữ (BL 6-9); biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 10-
12); Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng C2 Công
an tỉnh N (BL 96-97); sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng của Phạm Văn Đ
(BL 149); biên bản kiểm tra khai thác dữ liệu điện thoại của bị cáo Trần Thanh
T, Nguyễn Văn C (BL 182 -222) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ
có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 27/12/2025 tại thôn Y, xã Y, tỉnh Ninh Bình,
Phạm Văn Đ đã có hành vi bán trái phép 15 quả pháo nổ và 17 hộp pháo nổ (loại
pháo hoa nổ) có tổng khối lượng 25,807 kg cho Trần Thanh T, Nguyễn Văn C
thu lợi bất chính số tiền 22.000.000 đồng. Sau khi mua được pháo, T và C đang
trên đường chở toàn bộ số pháo vừa mua được của Đ để về nhà C để cất giấu khi
đi đến khu công nghiệp K thuộc phường Đ, tỉnh Ninh Bình thì bị Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Phạm Văn
Đ đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” thuộc trường hợp “Sản xuất, buôn bán
pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”. Hành vi của bị cáo Trần Thanh T,
Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” thuộc trường
hợp “Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam” quy định tại điểm c khoản 1
Điều 191. của Bộ luật Hình sự.
Điều 191. Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường
hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239,
244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị
phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng
đến 03 năm:
a) ..........................
.............................
c) P nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
..........................
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình đã truy tố
các bị cáo với các