🇬🇧 Original document is in Vietnamese
Vietnamese laws are officially issued in Vietnamese only. The body below is the original. Use Chrome / Edge / Safari built-in translation, or:
Nghị quyết258/2025/QH15· 11/12/2025
Nghị quyết số 258/2025/QH15 Về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcĐiều 1. của Nghị quyết này bảo đảm hài hòa lợi ích người dân, Nhà nước, doanh nghiệp, không gây thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm, không để xảy ra các vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. 3. Đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này, Thành phố được tạm giao một phần đất thuộc phạm vi dự án để khởi công xây dựng công trình. Nhà đầu tư, chủ đầu tư phải thực hiện các điều kiện khởi công xây dựng công trình và thời hạn quy định tại khoản 2
Điều 5. của Nghị quyết này và chịu trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện đúng quy định này. 4. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định tiêu chí, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để triển khai các dự án trên địa bàn Thành phố: a) Đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này: bằng 02 lần so với mức quy định; b) Đối với dự án không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này: không quá 02 lần so với mức quy định. 5. Căn cứ đề xuất dự án tổng thể thực hiện theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (hợp đồng BT), Ủy ban nhân dân Thành phố phân chia dự án tổng thể thành các dự án thành phần và xác định quỹ đất dự kiến thanh toán cho từng dự án thành phần đó, bảo đảm giá trị quỹ đất dự kiến thanh toán tương đương với giá trị dự toán công trình BT và được thực hiện cơ chế bù trừ chênh lệch giữa giá trị công trình BT và giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán. Ủy ban nhân dân Thành phố được quyết định thanh toán trước từng phần quỹ đất để thực hiện dự án đối ứng sau khi ký kết hợp đồng BT đối với từng dự án thành phần. Thời điểm xác định giá đất đối với diện tích đất thanh toán cho hợp đồng BT theo quy định của pháp luật về đất đai. Nhà đầu tư không phải chứng minh khả năng thu xếp vốn vay nhưng phải thực hiện điều kiện về phát hành bảo lãnh từng phần tương ứng với giá trị đất đối ứng được thanh toán đó; giá trị bảo lãnh được giảm trừ tương ứng với phần giá trị hợp đồng BT do nhà đầu tư đã thực hiện. Cơ quan ký kết hợp đồng chấm dứt hợp đồng dự án BT, cơ quan có thẩm quyền thu hồi toàn bộ quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư và thu hồi toàn bộ số tiền bảo lãnh trong trường hợp nhà đầu tư chậm hoàn thành công trình quá 12 tháng so với cam kết tại hợp đồng BT.
Điều 8. Cơ chế huy động vốn thực hiện dự án 1. Thành phố được sử dụng kết dư ngân sách cấp Thành phố để ưu tiên bố trí vốn cho các dự án đầu tư công quy định tại Nghị quyết này trước khi thực hiện việc trả nợ gốc và chi trả lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến nghĩa vụ trả nợ gốc và chi trả lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước. 2. Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cấp tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng đối với dự án quy định tại điểm a khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư. Đối với từng dự án cụ thể quy định tại điểm a khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này: Trường hợp ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cấp tín dụng mà nhu cầu vốn của khách hàng dẫn đến vượt giới hạn quy định thì ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp tín dụng hợp vốn. Trường hợp khả năng hợp vốn của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, quyết định mức cấp tín dụng tối đa đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan trong trường hợp tổng mức dư nợ cấp tín dụng vượt quá tỷ lệ theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Điều 9. Biện pháp bảo đảm trật tự đô thị, trật tự, an toàn xã hội Dự án đầu tư mới, cải tạo công trình để xử lý điểm nghẽn, cấp bách về ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi trường, trật tự đô thị sử dụng vốn ngân sách cấp Thành phố và các nguồn vốn hợp pháp khác thì được thực hiện đầu tư, xây dựng theo quy định về đầu tư công khẩn cấp của pháp luật về đầu tư công, lệnh xây dựng khẩn cấp của pháp luật về xây dựng.
Điều 10. Biện pháp cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định các biện pháp cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị theo quy hoạch sau đây: 1. Phá dỡ khu chung cư, nhà chung cư thuộc trường hợp phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về nhà ở; cải tạo, chỉnh trang, tái thiết một ô phố đô thị hoặc nhiều ô phố đô thị; 2. Giao chủ đầu tư thực hiện lập quy hoạch chi tiết dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch được quyết định các chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc, dân số tại dự án trong khu vực nội đô lịch sử vượt quá quy định tại quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đô thị trên cơ sở cân đối tổng thể dân cư theo quy hoạch nhưng phải bảo đảm chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, kết nối hạ tầng của khu vực; 3. Trên cơ sở quyết định của Hội đồng nhân dân Thành phố về danh mục các dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định kế hoạch cải tạo, xây dựng lại khu chung cư sau khi đã thực hiện kiểm định, đánh giá đại diện nhà chung cư và xác định thuộc diện phá dỡ thì không phải kiểm định, đánh giá toàn bộ khu chung cư. Hội đồng nhân dân Thành phố chịu trách nhiệm toàn diện về việc quyết định danh mục các dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị trên địa bàn Thủ đô, bảo đảm hài hòa lợi ích người dân, Nhà nước, doanh nghiệp, không gây thất thoát, lãng phí, lợi ích nhóm, không để xảy ra các vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, mất an ninh trật tự, an toàn xã hội; 4. Quyết định biện pháp cưỡng chế trong trường hợp chủ đầu tư đã được trên 75% các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tương đương với ít nhất là 75% diện tích khu vực cải tạo, chỉnh trang, tái thiết khu vực đô thị quy định tại điểm d khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này đồng thuận phương án quy hoạch, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Điều 11. Tổ chức thực hiện 1. Chính phủ có trách nhiệm sau đây: a) Chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân Thành phố đề cao trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết này, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả; không để trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí; b) Chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp với chính quyền địa phương ở Thành phố cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý các vấn đề chưa phân cấp, phân quyền cho Thành phố; c) Để bảo đảm lợi ích quốc gia và ngăn chặn các yếu tố có thể đe dọa an ninh quốc gia, Chính phủ thực hiện các biện pháp khẩn cấp để dừng hoặc tạm dừng thực hiện các cơ chế, chính sách được quy định tại Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; trong thời gian giữa hai kỳ họp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; d) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này; sơ kết 03 năm việc thực hiện Nghị quyết, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2028; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2030. 2. Hội đồng nhân dân Thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây: a) Thông qua Danh mục dự án quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 1, khoản 3
Điều 10. của Nghị quyết này; b) Ban hành văn bản theo thẩm quyền, tổ chức triển khai thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này; c) Giám sát Ủy ban nhân dân Thành phố và các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết này. 3. Ủy ban nhân dân Thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây: a) Tổ chức lập Danh mục dự án quy định tại điểm b và điểm c khoản 2
Điều 1. của Nghị quyết này trình Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua; b) Ban hành các văn bản được giao theo thẩm quyền, tổ chức triển khai thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này; c) Sơ kết, tổng kết việc thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Nghị quyết này, báo cáo Chính phủ theo quy định tại khoản 1 Điều này. 4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được lựa chọn, nhà thầu, nhà đầu tư và các cổ đông, thành viên công ty sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của nhà thầu, nhà đầu tư được lựa chọn theo quy định tại Nghị quyết này phải nộp cho Ủy ban nh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.
Vietnamese-language original. Use browser translation if needed.