Bỏ qua điều hướng - vào nội dung chính
VietLex

🇬🇧 Original document is in Vietnamese

Vietnamese laws are officially issued in Vietnamese only. The body below is the original. Use Chrome / Edge / Safari built-in translation, or:

Quyết định01/2026/QĐ-UBND· 16/01/2026

Quyết định số 01/2026/QĐ-UBND Ban hành quy định chi tiết một số chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Điều 107. Luật Đất đai. 2. Trên cơ sở nội dung kê khai, đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chủ trì phối hợp với các phòng, đơn vị chuyên môn của Ủy ban nhân nhân cấp xã nơi có đất thu hồi kiểm tra, xác minh chi phí đầu tư vào đất còn lại tại thời điểm lập phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư trình Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt.

Điều 6. Bồi thường thiệt hại đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn trong trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất (Thực hiện khoản 1

Điều 18. Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024) 1. Đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp từ 110 kV trở lên a) Đất phi nông nghiệp, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở không được công nhận là đất ở đủ điều kiện được bồi thường về đất quy định tại

Điều 95. Luật Đất đai,

Điều 5. Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 trong hành lang bảo vệ an toàn bị hạn chế khả năng sử dụng thì chủ sử dụng đất được bồi thường một lần do hạn chế khả năng sử dụng đất với mức bằng 80% mức bồi thường về đất khi thu hồi đất. b) Đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất đủ điều kiện được bồi thường về đất quy định tại

Điều 95. Luật Đất đai,

Điều 5. Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 trong hành lang bảo vệ an toàn bị hạn chế khả năng sử dụng thì chủ sử dụng đất được bồi thường một lần do hạn chế khả năng sử dụng đất với mức bằng 30% mức bồi thường về đất khi thu hồi đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất. c) Đối với nhà ở, công trình xây dựng hình thành trước ngày thông báo thực hiện dự án trên đất được bồi thường quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc trên đất sử dụng hợp pháp nhưng không được bồi thường về đất thì chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng được bồi thường một lần do hạn chế khả năng sử dụng, cụ thể như sau: c1) Trường hợp công trình phải phá dỡ hoàn toàn hoặc bị phá dỡ một phần, phần còn lại vẫn tồn tại, sử dụng được thì được bồi thường phần giá trị bị phá dỡ và chi phí cải tạo hoàn thiện lại công trình theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của công trình trước khi bị phá dỡ. c2) Trường hợp công trình vẫn được phép tồn tại thì được bồi thường đối với diện tích công trình trong hành lang an toàn với mức 70% mức bồi thường giá trị nhà, công trình tương đương. d) Đối với tài sản là cây có trước khi thông báo thực hiện dự án công trình trên đất đủ điều kiện bồi thường về đất trong hành lang bảo vệ an toàn do hạn chế khả năng sử dụng thì được bồi thường một lần với mức bồi thường như sau: d1) Trường hợp cây phải chặt bỏ thì được bồi thường bằng mức bồi thường thiệt hại về cây trồng khi thu hồi đất. d2) Trường hợp cây không phải chặt bỏ thì được bồi thường với mức 70% mức bồi thường cây bị chặt bỏ. 2. Đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn các công trình mà không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này tùy mức độ ảnh hưởng và tính chất đặc thù của công trình, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 7. Bồi thường thiệt hại về nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất (Thực hiện khoản 4

Điều 102. Luật Đất đai) Sở Xây dựng tham mưu, trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành đơn giá bồi thường thiệt hại về nhà, nhà ở, công trình xây dựng theo quy định tại

Điều 102. Luật Đất đai.

Điều 8. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng quy định tại điểm b khoản 2

Điều 102. Luật Đất đai (Thực hiện điểm a, d khoản 1

Điều 14. Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024) 1. Đối với nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất quy định tại điểm b khoản 2

Điều 102. Luật Đất đai, khi Nhà nước thu hồi đất thì ngoài việc được bồi thường bằng giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại còn được cộng thêm một khoản tiền bằng 60% theo giá trị hiện có của phần nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại đó, nhưng tổng mức bồi thường không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình xây dựng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại. 2. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật chuyên ngành giao đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo giá trị thực tế bị thiệt hại và cộng thêm một khoản tiền bằng 60% theo giá trị thực tế bị thiệt hại của nhà, công trình xây dựng đó, nhưng tổng mức bồi thường không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình đó trình Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt.

Điều 9. Bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà ở cho người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ (Thực hiện

Điều 16. Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024) Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí

Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.

Vietnamese-language original. Use browser translation if needed.