Bỏ qua điều hướng - vào nội dung chính

🇬🇧 Original document is in Vietnamese

Vietnamese laws are officially issued in Vietnamese only. The body below is the original. Use Chrome / Edge / Safari built-in translation, or:

Quyết định02/2019/QĐ-KTNN· 22/08/2019

Decision - Vietnam (2019)

🇻🇳 Original: Quyết định Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán

VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Số: 02/2019/Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính ngân hàng

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Hướng dẫn phương pháp tiếp cận

kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính ngân hàng.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước và các tổ chức,

cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Hồ Đức Phớc KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KIỂM TOÁN DỰA TRÊN ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ XÁC ĐỊNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG (Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2019/QĐ-KTNN ngày 22/8/2019 của Tổng Kiểm toán nhà nước) Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Hướng dẫn này quy định chính sách xác định trọng yếu và hướng dẫn vận

dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán khi thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính trong lĩnh vực kiểm toán ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác (ngoại trừ Ngân hàng nhà nước) do Kiểm toán nhà nước (viết tắt là KTNN) thực hiện.

2. Hướng dẫn này áp dụng khi kiểm toán đối với bộ Báo cáo tài chính đầy đủ

của ngân hàng hoặc kiểm toán các báo cáo riêng lẻ, các thông tin tài chính của Báo cáo tài chính ngân hàng (viết tắt là BCTCNH).

Điều 2. Mục đích ban hành

1. Hướng dẫn này nhằm giúp Kiểm toán viên nhà nước (viết tắt là KTVNN)

vận dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán một cách phù hợp khi lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán trong kiểm toán BCTCNH.

2. Hướng dẫn KTVNN đưa ra ý kiến về việc liệu BCTCNH có được lập và

trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.

Điều 3. Đối tượng áp dụng

1. Hướng dẫn này áp dụng đối với các đơn vị trực thuộc KTNN, các đoàn

KTNN, thành viên đoàn KTNN và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kiểm toán BCTCNH của KTNN.

2. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả

kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn này và các chuẩn mực kiểm toán nhà nước (viết tắt là CMKTNN) có liên quan để thực hiện trách nhiệm của mình và phối hợp công việc với đoàn KTNN và KTVNN, cũng như khi xử lý các mối quan hệ liên quan đến thông tin đã được kiểm toán.

Điều 4. Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ

- Các thuật ngữ sử dụng trong hướng dẫn này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán của KTNN đã ban hành. - Kiểm toán viên nhà nước trong Hướng dẫn này được hiểu như quy định tại Đoạn 20 Quy định danh mục thuật ngữ sử dụng trong hệ thống CMKTNN, là những người thực hiện cuộc kiểm toán, gồm lãnh đạo Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán và các thành viên khác trong Tổ kiểm toán. Chương II CHÍNH SÁCH XÁC ĐỊNH TRỌNG YẾU KIỂM TOÁN BCTCNH

Điều 5. Nội dung chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCNH

1. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCNH quy định và hướng dẫn

các nội dung chủ yếu sau: a) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. b) Xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục, nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh (viết tắt là các khoản mục) cần lưu ý. c) Xác định mức trọng yếu thực hiện. d) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể.

2. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCNH bao gồm đồng thời cả

khung hướng dẫn về định lượng và các nguyên tắc hướng dẫn về định tính đối với việc xác định trọng yếu kiểm toán BCTCNH.

Căn cứ Luật Kiểm toán nhà nước ban hành ngày 24/6/2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015;

Căn cứ Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15/7/2016 của Tổng Kiểm toán

nhà nước ban hành Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán và

Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành Quyết định Hướng dẫn phương pháp tiếp

cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo

cáo tài chính ngân hàng.

Điều 6. Khung hướng dẫn xác định trọng yếu kiểm toán BCTCNH về

định lượng

1. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH

a) Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH hoặc thông tin tài chính được kiểm toán: Là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót trên BCTCNH hoặc thông tin tài chính được kiểm toán mà KTVNN cho rằng từ mức đó trở xuống BCTCNH có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. b) Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH được xác định dựa trên giá trị tiêu chí được lựa chọn và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với giá trị tiêu chí đó. Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH X Giá trị tiêu chí được lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH c) Lựa chọn tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH: - Tùy từng loại hình ngân hàng, tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH có thể được lựa chọn từ một hoặc một số chỉ tiêu quan trọng nhất trong các yếu tố của BCTCNH: Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế; Tổng thu nhập; Tổng chi phí; Tổng tài sản; Tổng vốn chủ sở hữu,... - Việc lựa chọn tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN dựa trên các yếu tố sau: + Các khoản mục trên BCTCNH mà đối tượng sử dụng thông tin thường quan tâm; + Đặc điểm và môi trường hoạt động của ngân hàng được kiểm toán; mục tiêu hoạt động của ngân hàng; tính hoạt động liên tục của ngân hàng; + Sự thay đổi tiêu chí lựa chọn khi có yếu tố biến động bất thường. Ví dụ: Ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể lựa chọn chỉ tiêu Tổng lợi nhuận trước thuế. Trong trường hợp kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại bị lỗ hoặc đối với các ngân hàng hoạt động không vì lợi nhuận như Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển..., sẽ không sử dụng chỉ tiêu Tổng lợi nhuận trước thuế để tính mức trọng yếu mà sử dụng các chỉ tiêu khác như chỉ tiêu Tổng thu nhập hoặc chỉ tiêu Tổng tài sản hoặc Tổng vốn chủ sở hữu. - Trường hợp chọn nhiều tiêu chí để xác định mức trọng yếu thì mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH là giá trị thấp nhất xác định được từ các tiêu chí trên. - Khi lựa chọn chỉ tiêu hợp lý để xác định mức trọng yếu tổng thể đối với tổng thể BCTCNH dựa trên các chỉ tiêu trên. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết lý do lựa chọn của mình. d) Khung tỷ lệ để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH - KTNN xây dựng khung tỷ lệ sử dụng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH là một khoảng tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với mỗi giá trị tiêu chí được lựa chọn (chi tiết theo Bảng 1). Bảng 1. Khung tỷ lệ cho từng tiêu chí để xác định mức trọng yếu tổng thể STT Mức trọng yếu tổng thể 1 1 - 6% Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 2 0,5 - 2% Tổng thu nhập 3 0,5 - 2% Tổng chi phí 4 0,5 - 2% Tổng vốn chủ sở hữu 5 0,5 - 2% Tổng tài sản - Khung tỷ lệ nêu trên cung cấp định hướng cho KTVNN khi đưa ra các xét đoán trong việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. Trong một số trường hợp, tỷ lệ % xác định mức trọng yếu có thể ngoài khung hướng dẫn nói trên nếu như KTVNN xét đoán rằng mức trọng yếu đó là phù hợp. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết về nguyên nhân xác định mức trọng yếu ngoài khung hướng dẫn và mức trọng yếu này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có). - Việc xác định tỷ lệ trong khung cần lưu ý phụ thuộc vào đánh giá và xét đoán chuyên môn của KTVNN, trên cơ sở xem xét các thông tin: Đặc điểm, môi trường kinh doanh, quy mô, tính phức tạp hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mức độ quan tâm của đối tượng sử dụng BCTCNH (ví dụ Quốc hội),... đ) Xác định mức trọng yếu tổng thể BCTCNH hợp nhất hoặc Báo cáo tài chính tổng hợp của ngân hàng - Khi xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát Báo cáo tài chính hợp nhất (viết tắt là BCTCHN) hoặc Báo cáo tài chính tổng hợp của ngân hàng, mức trọng yếu được xác định ở hai cấp: + Đối với cấp BCTCHN: Việc xác định mức trọng yếu tổng thể của BCTCHN thực hiện như đối với một đơn vị được kiểm toán độc lập theo hướng dẫn tại Điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 6 của hướng dẫn này. Trong đó lưu ý, việc lựa chọn các tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể cần có sự thống nhất, đồng bộ tối đa với tất cả các đơn vị thành viên (ví dụ: có thể chọn chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế, Tổng thu nhập, Tổng chi phí, Tổng tài sản, Tổng vốn chủ sở hữu) hoặc có thể áp dụng lựa chọn kết hợp đồng thời nhiều chỉ tiêu (ví dụ: vừa chọn chỉ tiêu Tổng thu nhập và chỉ tiêu Lợi nhuận trước thuế,...). Trên cơ sở mức trọng yếu tổng thể BCTCHN đã được xác định, thực hiện xác định mức trọng yếu cho từng đơn vị thành viên tương ứng theo xét đoán và các tiêu chí nhất định (dựa trên Tổng thu nhập, Tổng tài sản,...); Trường hợp, trong ngân hàng có các giao dịch nội bộ cần được phân loại riêng để đánh giá, xác định trọng yếu: Bản thân ngân hàng đó có thể can thiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ để tạo ra một BCTCHN tốt nhưng không đúng thực tế. Do đó, việc phân bổ mức trọng yếu trong từng thành viên ngân hàng đồng thời tất cả các giao dịch nội bộ phải được tách ra để xem xét riêng. + Đối với cấp BCTC của từng đơn vị thành viên: Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCHN đã được xác định, có thể thực hiện phân bổ cho từng đơn vị thành viên tương ứng theo xét đoán và các tiêu chí nhất định: Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC của đơn vị thành viên được áp dụng cho từng đơn vị mà KTVNN sẽ kiểm toán hoặc soát xét vì mục đích kiểm toán BCTCHN được xác định theo mức phân bổ kết hợp việc đánh giá rủi ro từng đơn vị cụ thể. (Ví dụ: dựa trên tổng thu nhập, tổng tài sản,... chi nhánh hoặc công ty con chiếm tỷ lệ bao nhiêu % trong ngân hàng và kết hợp việc đánh giá rủi ro tại từng đơn vị để phân bổ mức trọng yếu phù hợp tương ứng). Hoặc từng đơn vị thành viên có thể được xác định mức trọng yếu dựa trên các đặc điểm của đơn vị và thường khác nhau tại mỗi đơn vị: Quy mô tiêu chí lựa chọn càng lớn thì tỷ lệ % trên tiêu chí càng nhỏ; rủi ro của đơn vị càng lớn thì tỷ lệ % trên tiêu chí càng nhỏ. Song trong cả hai trường hợp việc xác định mức trọng yếu của đơn vị thành viên phải đảm bảo nguyên tắc mức trọng yếu đối với đơn vị thành viên phải thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCHN, nhằm giảm xuống một mức độ thấp hợp lý khả năng tổng hợp các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện trong BCTCHN không vượt quá mức trọng yếu tổng thể của BCTCHN (KTVNN dựa trên xét đoán mức độ rủi ro tại từng đơn vị được kiểm toán để xác định mức trọng yếu tương ứng, nhưng mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính của công ty con/chi nhánh không được vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCHN). - Với các giao dịch nội bộ cần phân loại riêng để đánh giá, xác định trọng yếu (ví dụ, nhiều trường hợp, giao dịch trong nội bộ ngân hàng có sự can thiệp của Hội sở chính, có thể chứa đựng sai sót và rủi ro trọng yếu dẫn đến ý kiến kiểm toán sai, không xác đáng).

2. Xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý

a) Cơ sở để xác định các khoản mục cần lưu ý khi KTVNN cho rằng các khoản mục đó nếu có sai sót thì các sai sót này có thể ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng BCTCNH ngay cả khi quy mô các sai sót này thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. b) Việc xác định các khoản mục cần lưu ý phụ thuộc vào đánh giá của KTVNN về quy mô và tính chất của các khoản mục, trên cơ sở xem xét các thông tin sau: - Pháp luật, các quy định hoặc khuôn khổ về lập và trình bày BCTCNH được áp dụng có thể gây ảnh hưởng đến kỳ vọng của đối tượng sử dụng thông tin tài chính đối với một số khoản mục trên BCTCNH (thay đổi tỷ lệ trích lập dự phòng có thể dẫn đến thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh từ lãi sang lỗ hoặc ngược lại,...). - Các thuyết minh quan trọng liên quan đến đặc điểm hoạt động của ngân hàng trong năm kiểm toán (các khoản đầu tư tài chính, các khoản kinh doanh ngoại tệ...); hoặc là thông tin dồn tích của nhiều năm (các khoản nợ xấu nhiều năm chưa thu được, các khoản hỗ trợ lãi suất được NSNN thanh toán,...). - Đối tượng sử dụng thông tin BCTCNH quan tâm đến một khoản mục, chỉ tiêu nhất định được thuyết minh riêng rẽ trên BCTCNH (việc phân phối lợi nhuận, chia cổ tức cho các cổ đông,...). - Các chỉ tiêu liên quan đến định hướng, trọng tâm kiểm toán của ngành thuộc BCTCNH (có chi ngoài lãi suất huy động cao hơn quy định của Ngân hàng nhà nước, có cho vay hỗ trợ lãi suất sai đối tượng hay không,...). c) Một số lưu ý khi xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý: - Mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót đối với từng khoản mục trên BCTCNH được kiểm toán mà KTVNN cho rằng từ mức đó trở xuống khoản mục có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. - Tùy vào hoàn cảnh cụ thể, có thể có các khoản mục có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu tổng thể đối với BCTCNH nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin thì KTVNN phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng khoản mục này. Tuy nhiên mức trọng yếu riêng cho các khoản mục trên BCTCNH không được lớn hơn mức trọng yếu tổng thể đối với BCTCNH. - Đối với những khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. - Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với khoản mục đó có thể được xác định ở mức rất thấp (có thể được xác định ở mức thấp, thậm chí có trường hợp xác định mức trọng yếu gần tới 0 hoặc thực hiện kiểm toán toàn bộ 100% nghiệp vụ kinh tế phát sinh). Khi đó, KTVNN có thể kiểm toán gần như toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện các sai sót có liên quan đến khoản mục. d) Khi kiểm toán BCTCHN, việc xác định mức trọng yếu áp dụng cho các khoản mục cần lưu ý được xác định tương tự như đối với một đơn vị được kiểm toán độc lập theo hướng dẫn tại văn bản này.

3. Xác định mức trọng yếu thực hiện

a) Mức trọng yếu thực hiện là mức giá trị do KTVNN xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH, nhằm giảm khả năng sai sót tới mức thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và các sai sót không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. Trong trường hợp liên quan đến mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý, mức trọng yếu thực hiện cũng được xác định để làm giảm khả năng xảy ra các sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể chấp nhận được. b) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng: Mức trọng yếu thực hiện = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu thực hiện X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH c) KTNN xây dựng khung hướng dẫn để xác định mức trọng yếu thực hiện đối với kiểm toán BCTCNH áp dụng theo thông lệ kiểm toán BCTCNH trong khoảng từ 50% - 75% mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH đã xác định ở trên. d) Việc chọn tỷ lệ nào (trong khung) áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể là tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN. Tuy nhiên khi áp dụng tỷ lệ nào, KTVNN cần giải thích rõ lý do lựa chọn (bằng văn bản và có tài liệu kèm theo). Thông qua quá trình tìm hiểu đơn vị được kiểm toán và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCTCNH càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và mức trọng yếu thực hiện có thể bao phủ được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh. Ví dụ: Xác định mức trọng yếu thực hiện được xác định ở tỷ lệ phần trăm (%) thấp (trong khung hướng dẫn) khi có các yếu tố như: Tình hình tài chính yếu kém; có thay đổi nhân sự chủ chốt; thay đổi chính sách của Ngân hàng nhà nước; môi trường kiểm soát hoạt động không hiệu quả; năng lực nhân viên không đạt yêu cầu; bộ máy kiểm soát hoạt động không hiệu quả;... đ) Mức trọng yếu thực hiện đối với khoản mục cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN. e) Trong một số trường hợp đặc biệt, tùy thuộc hoàn cảnh của cuộc kiểm toán, tỷ lệ % xác định mức trọng yếu thực hiện có thể ngoài khung hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều này nếu như KTVNN xét đoán rằng mức trọng yếu đó là phù hợp. Tuy nhiên, mức trọng yếu thực hiện luôn phải thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH do khi lập kế hoạch kiểm toán, việc thiết kế các thủ tục kiểm toán để phát hiện các sai sót trọng yếu một cách riêng lẻ dẫn tới khả năng ảnh hưởng lũy kế của các sai sót không trọng yếu (nếu xét riêng lẻ) có thể làm cho BCTCNH còn chứa đựng các sai sót trọng yếu hoặc còn có những sai sót có thể không được phát hiện qua quá trình kiểm toán. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết về nguyên nhân xác định mức trọng yếu thực hiện vượt quá khung và mức trọng yếu thực hiện vượt khung này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có).

4. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể

a) Ngưỡng sai sót không đáng kể là mức giá trị do KTVNN xác định mà sai sót dưới mức đó được coi là sai sót không đáng kể và tổng hợp các sai sót đó không ảnh hưởng trọng yếu đến BCTCNH. b) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng: Ngưỡng sai sót không đáng kể = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH c) KTNN xây dựng khung tỷ lệ để xác định ngưỡng sai sót không đáng kể khi kiểm toán BCTCNH khoảng 0% - 3% mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. d) Khung tỷ lệ quy định ở trên cung cấp định hướng cho KTVNN khi đưa ra các xét đoán trong việc xác định ngưỡng sai sót không đáng kể. Đối với từng cuộc kiểm toán cụ thể, KTVNN dựa trên xét đoán lựa chọn một tỷ lệ trong khung phù hợp với đặc điểm của cuộc kiểm toán. Những xét đoán của KTVNN và cơ sở chọn tỷ lệ đều phải phản ánh trên hồ sơ kiểm toán. đ) Trong một số trường hợp, ngưỡng sai sót không đáng kể có thể ngoài khung hướng dẫn trên nếu như KTVNN xét đoán rằng ngưỡng đó là phù hợp. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết về nguyên nhân xác định ngưỡng sai sót không đáng kể vượt khung và ngưỡng sai sót không đáng kể này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có). e) Đối với khoản mục cần lưu ý: Ngưỡng sai sót không đáng kể cũng xác định dựa trên mức trọng yếu đã xác định đối với khoản mục

Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.

Vietnamese-language original. Use browser translation if needed.