Bỏ qua điều hướng - vào nội dung chính

🇪🇸 El documento original está en vietnamita

Las leyes vietnamitas se publican solo en vietnamita. El contenido a continuación es el original. Use la traducción integrada de Chrome / Edge / Safari, o:

Quyết định01/2019/QĐ-KTNN· 29/01/2019

Decisión - Vietnam (2019)

🇻🇳 Original: Quyết định Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá

Số: 01/2019/Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 29 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Hướng dẫn phương pháp tiếp cận

kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước và các tổ chức,

cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Hồ Đức Phớc KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KIỂM TOÁN DỰA TRÊN ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ XÁC ĐỊNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (Ban hành kèm theo Quyết định số 01/2019/QĐ-KTNN ngày 29/01/2019 của Tổng Kiểm toán nhà nước) Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Hướng dẫn này quy định chính sách xác định trọng yếu và hướng dẫn vận

dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính trong lĩnh vực kiểm toán doanh nghiệp (viết tắt là BCTCDN) do Kiểm toán nhà nước (viết tắt là KTNN) thực hiện.

2. Hướng dẫn này áp dụng khi kiểm toán đối với bộ BCTCDN đầy đủ hoặc

kiểm toán các báo cáo riêng lẻ, các thông tin tài chính của BCTCDN.

Điều 2. Mục đích ban hành

1. Hướng dẫn này nhằm giúp Kiểm toán viên Nhà nước (viết tắt là KTVNN) vận

dụng phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán một cách phù hợp khi lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán trong kiểm toán BCTCDN.

2. Hướng dẫn KTVNN đưa ra ý kiến về việc liệu BCTCDN có được lập và

trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.

Điều 3. Đối tượng áp dụng

1. Hướng dẫn này áp dụng đối với các đơn vị trực thuộc KTNN, các đoàn

KTNN, các KTVNN và các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kiểm toán BCTCDN của KTNN.

2. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả

kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn này và các chuẩn mực kiểm toán nhà nước (viết tắt là CMKTNN) có liên quan để thực hiện trách nhiệm của mình và phối hợp công việc với đoàn KTNN và KTVNN, cũng như khi xử lý các mối quan hệ liên quan đến thông tin đã được kiểm toán.

Điều 4. Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ

Các thuật ngữ sử dụng trong hướng dẫn này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán của KTNN đã ban hành. Chương II CHÍNH SÁCH XÁC ĐỊNH TRỌNG YẾU KIỂM TOÁN BCTCDN

Điều 5. Nội dung chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCDN

1. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCDN quy định và hướng dẫn

các nội dung chủ yếu sau: a) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính doanh nghiệp; b) Xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục, nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh (viết tắt là khoản mục) cần lưu ý; c) Xác định mức trọng yếu thực hiện; d) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể.

2. Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán BCTCDN bao gồm đồng thời cả

khung hướng dẫn về định lượng và các nguyên tắc hướng dẫn về định tính đối với việc xác định trọng yếu kiểm toán BCTCDN.

Căn cứ Luật Kiểm toán nhà nước ngày 24/6/2015;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015;

Căn cứ Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN ngày 15/7/2016 của Tổng Kiểm toán

nhà nước ban hành Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 1662/QĐ-KTNN ngày 03/11/2017 của Tổng Kiểm toán

nhà nước về việc ban hành Quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản quy

phạm pháp luật và văn bản quản lý của Kiểm toán nhà nước;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán và Vụ

trưởng Vụ Pháp chế;

Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành Quyết định Hướng dẫn phương pháp tiếp

cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo

cáo tài chính doanh nghiệp.

Điều 6. Khung hướng dẫn xác định trọng yếu kiểm toán BCTCDN về

định lượng

1. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

a) Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN hoặc thông tin tài chính được kiểm toán: Là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót trên BCTCDN hoặc thông tin tài chính được kiểm toán mà KTVNN cho rằng từ mức đó trở xuống BCTCDN có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin; b) Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN được xác định dựa trên giá trị tiêu chí được lựa chọn và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với giá trị tiêu chí đó. Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN X Giá trị tiêu chí được lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN c) Lựa chọn tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN: - Tùy từng loại hình doanh nghiệp, tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN có thể được lựa chọn từ một hoặc một số chỉ tiêu quan trọng nhất trong các yếu tố của BCTCDN: Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế; Tổng doanh thu; Tổng chi phí; Tổng tài sản;... - Việc lựa chọn tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN dựa trên các yếu tố sau: + Các khoản mục trên BCTCDN mà đối tượng sử dụng thông tin thường quan tâm; + Đặc điểm hoạt động của đơn vị được kiểm toán, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực và môi trường hoạt động của đơn vị; môi trường kiểm soát của doanh nghiệp; mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp; tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp. + Sự thay đổi tiêu chí lựa chọn khi có yếu tố bất thường. Ví dụ: Trong trường hợp doanh nghiệp lỗ, KTVNN sẽ không sử dụng tiêu chí lợi nhuận kế toán trước thuế để tính mức trọng yếu mà sử dụng các chỉ tiêu khác; Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trước thuế hoặc doanh thu thuần thường được lựa chọn để tính mức trọng yếu đối với các doanh nghiệp thương mại; Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trước thuế hoặc tổng tài sản thường được lựa chọn để tính mức trọng yếu đối với các doanh nghiệp sản xuất; Chỉ tiêu doanh thu thuần hoặc lợi nhuận kế toán trước thuế hoặc vốn chủ sở hữu thường được lựa chọn để tính mức trọng yếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ…. - Trường hợp chọn nhiều tiêu chí để xác định mức trọng yếu thì mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN là giá trị thấp nhất xác định được từ các tiêu chí trên. - Khi lựa chọn chỉ tiêu hợp lý để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN dựa trên các chỉ tiêu trên. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết lý do lựa chọn của mình. d) Khung tỷ lệ để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN - KTNN xây dựng khung tỷ lệ sử dụng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN là một khoảng tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng với mỗi giá trị tiêu chí được lựa chọn (chi tiết theo Bảng 1). Bảng 1. Khung tỷ lệ cho từng tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN STT Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN 1 3-10% Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 2 0,5-3% Tổng doanh thu 3 0,5-3% Tổng chi phí 4 0,5-3% Tổng vốn chủ sở hữu 5 0,5-2% Tổng tài sản - Khung tỷ lệ nêu trên cung cấp định hướng cho KTVNN khi đưa ra các xét đoán trong việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Trong một số trường hợp, tỷ lệ % xác định mức trọng yếu có thể vượt khung hướng dẫn nói trên nếu như KTVNN xét đoán rằng mức trọng yếu đó là phù hợp. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết hơn về nguyên nhân xác định mức trọng yếu vượt quá khung và mức trọng yếu vượt khung này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có). - Việc xác định tỷ lệ trong khung cần lưu ý phụ thuộc vào đánh giá của KTVNN, trên cơ sở xem xét các thông tin: Đặc điểm, môi trường kinh doanh, quy mô, tính chất phức tạp hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp,... đ) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN hợp nhất hoặc Báo cáo tài chính tổng hợp của tập đoàn hoặc tổng công ty - Khi xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát kiểm toán Báo cáo tài chính hợp nhất hoặc Báo cáo tài chính tổng hợp của tổng công ty hoặc tập đoàn (viết tắt là BCTCTĐ), mức trọng yếu được xác định ở hai cấp: + Đối với cấp BCTCTĐ: Việc xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ thực hiện như đối với một đơn vị được kiểm toán độc lập theo hướng dẫn tại Tiết a, b, c, d Khoản 1 Điều 6 của hướng dẫn này. Trong đó lưu ý, việc lựa chọn các tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể cần cố gắng có sự thống nhất, đồng bộ tối đa với tất cả các công ty con (ví dụ: Có thể chọn tiêu chí doanh thu, chi phí, tài sản, vốn chủ sở hữu) hoặc có thể áp dụng lựa chọn kết hợp đồng thời nhiều chỉ tiêu (ví dụ: vừa chọn chỉ tiêu doanh thu và chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trước thuế,...). Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ đã được xác định, thực hiện phân bổ cho các đơn vị thành viên tương ứng theo xét đoán và các tiêu chí nhất định. Trường hợp, trong tập đoàn, tổng công ty có các giao dịch nội bộ cần được phân loại riêng để đánh giá, xác định trọng yếu: Bản thân tập đoàn đó có thể can thiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ để tạo ra một BCTCTĐ tốt nhưng không đúng trong thực tế. Do đó, việc phân bổ mức trọng yếu trong từng thành viên tập đoàn, tổng công ty đồng thời tất cả các giao dịch nội bộ phải được tách ra để xem xét riêng. + Đối với cấp BCTCDN của các đơn vị thành viên: Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ đã được xác định, thực hiện phân bổ cho các đơn vị thành viên tương ứng theo xét đoán và các tiêu chí nhất định: Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC của đơn vị thành viên được áp dụng cho các đơn vị thành viên mà các KTVNN sẽ kiểm toán hoặc soát xét vì mục đích kiểm toán BCTCTĐ có thể được xác định theo mức phân bổ để xác định mức trọng yếu của các đơn vị thành viên theo các tiêu chí (dựa trên tổng doanh thu, tổng tài sản công ty con chiếm tỷ lệ bao nhiêu % trong tập đoàn và được phân bổ mức trọng yếu tương ứng). Hoặc các đơn vị thành viên có thể được xác định mức trọng yếu dựa trên các đặc điểm, quy mô của từng đơn vị và thường khác nhau tại mỗi đơn vị tương ứng theo xét đoán của KTVNN: quy mô tiêu chí lựa chọn càng lớn thì tỷ lệ % trên tiêu chí càng nhỏ; rủi ro của đơn vị càng lớn thì tỷ lệ % trên tiêu chí càng nhỏ. Song trong cả hai trường hợp việc xác định mức trọng yếu của đơn vị thành viên phải đảm bảo nguyên tắc mức trọng yếu đối với các đơn vị thành viên phải thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ, nhằm giảm xuống một mức độ thấp hợp lý khả năng tổng hợp các sai sót không được điều chỉnh và không được phát hiện trong BCTCTĐ không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ (KTVNN dựa trên xét đoán mức độ rủi ro tại từng công ty con để phân bổ mức trọng yếu tương ứng, nhưng mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC của các công ty con không được vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCTĐ). - Với các giao dịch nội bộ cần phân loại riêng để đánh giá, xác định trọng yếu do nhiều trường hợp, giao dịch trong nội bộ tập đoàn chứa đựng sai sót và rủi ro trọng yếu dẫn đến ý kiến kiểm toán sai (ví dụ: Tập đoàn đó có thể can thiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ để tạo ra một báo cáo tài chính tốt nhưng không đúng trong thực tế).

2. Xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý

a) Cơ sở để xác định các khoản mục cần lưu ý khi KTVNN cho rằng các khoản mục đó nếu có sai phạm thì các sai phạm này có thể ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính ngay cả khi quy mô các sai phạm này thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính. b) Việc xác định các khoản mục cần lưu ý phụ thuộc vào đánh giá của KTVNN về quy mô và tính chất của các khoản mục, trên cơ sở xem xét các thông tin sau: - Pháp luật, các quy định hoặc khuôn khổ về lập và trình bày BCTCDN được áp dụng có thể gây ảnh hưởng đến kỳ vọng của đối tượng sử dụng thông tin tài chính đối với một số khoản mục trên BCTCDN (thay đổi mức trích khấu hao tài sản cố định có thể dẫn đến thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh từ lãi sang lỗ hoặc ngược lại,...). - Các thuyết minh quan trọng liên quan đến đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp trong năm kiểm toán (các khoản đầu tư tài chính, giao dịch quan trọng ở nước ngoài...); hoặc là thông tin dồn tích của nhiều năm (các trích lập dự phòng các khoản nợ khó đòi, hàng hóa mất phẩm chất,...). - Đối tượng sử dụng thông tin BCTCDN quan tâm đến một hạng mục, chỉ tiêu nhất định được thuyết minh riêng rẽ trên BCTCDN (các nghiệp vụ giao dịch về vốn với các chủ sở hữu và việc phân phối cổ tức cho các chủ sở hữu,...). - Các chỉ tiêu liên quan đến định hướng, trọng tâm kiểm toán của ngành thuộc BCTCDN (tiền sử dụng đất còn phải nộp nếu trong năm Kiểm toán nhà nước có kiểm toán chuyên đề về nợ đọng tiền sử dụng đất các doanh nghiệp,...). c) Một số lưu ý khi xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý: - Mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý là giá trị tối đa của toàn bộ sai sót đối với từng khoản mục trên BCTCDN được kiểm toán mà KTVNN cho rằng ở mức đó khoản mục có thể bị sai nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. - Tùy vào hoàn cảnh cụ thể, có thể có các khoản mục có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thì KTVNN phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng khoản mục này. Tuy nhiên mức trọng yếu riêng cho các khoản mục trên BCTCDN không được lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. - Đối với những khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. - Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với khoản mục đó có thể được xác định ở mức rất thấp (có thể được xác định ở mức thấp (thậm chí có trường hợp xác định mức trọng yếu gần tới 0 hoặc thực hiện kiểm toán toàn bộ 100% nghiệp vụ kinh tế phát sinh). Khi đó, KTVNN có thể kiểm toán gần như toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện các sai sót có liên quan đến khoản mục. d) Khi kiểm toán BCTCTĐ, việc xác định mức trọng yếu áp dụng cho các khoản mục cần lưu ý được xác định tương tự như đối với một đơn vị được kiểm toán độc lập theo hướng dẫn tại văn bản này.

3. Xác định mức trọng yếu thực hiện

a) Mức trọng yếu thực hiện là mức giá trị do KTVNN xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN, nhằm giảm khả năng sai sót tới mức thấp hợp lý để tổng hợp ảnh hưởng của các sai sót không được điều chỉnh và các sai sót không được phát hiện không vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Trong trường hợp liên quan đến mức trọng yếu đối với khoản mục, mức trọng yếu thực hiện cũng được xác định để làm giảm khả năng xảy ra các sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể chấp nhận được; b) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng: Mức trọng yếu thực hiện = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu thực hiện X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN c) KTNN xây dựng khung hướng dẫn để xác định mức trọng yếu thực hiện đối với kiểm toán BCTCDN áp dụng theo thông lệ kiểm toán BCTCDN trong khoảng từ 50% - 75% mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN đã xác định ở trên; d) Việc chọn tỷ lệ nào (trong khung) áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể là tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN. Tuy nhiên khi áp dụng tỷ lệ nào, KTVNN cần giải thích rõ lý do lựa chọn (mô tả bằng văn bản và có tài liệu kèm theo). Thông qua quá trình tìm hiểu đơn vị được kiểm toán và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCTCDN càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và mức trọng yếu thực hiện có thể bao phủ được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh. Ví dụ: Thông thường xác định mức trọng yếu thực hiện được xác định ở tỷ lệ phần trăm (%) thấp (trong khung hướng dẫn) khi có các yếu tố như: Tình hình tài chính yếu kém; có thay đổi nhân sự chủ chốt; thay đổi lĩnh vực kinh doanh; hệ thống kiểm soát nội bộ khiếm khuyết hoặc hoạt động không hiệu quả; năng lực nhân viên không đạt yêu cầu;... đ) Mức trọng yếu thực hiện đối với khoản mục cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN. e) Trong một số trường hợp đặc biệt, tùy thuộc hoàn cảnh của cuộc kiểm toán, tỷ lệ % xác định mức trọng yếu thực hiện có thể vượt khung hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều này nếu như KTVNN xét đoán rằng mức trọng yếu đó là phù hợp. Tuy nhiên, mức trọng yếu thực hiện luôn luôn phải thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN do khi lập kế hoạch kiểm toán, việc thiết kế các thủ tục kiểm toán để phát hiện các sai sót trọng yếu một cách đơn lẻ dẫn tới khả năng ảnh hưởng lũy kế của các sai sót không trọng yếu đơn lẻ có thể làm cho BCTCDN còn chứa đựng các sai sót trọng yếu hoặc còn có những sai sót có thể không được phát hiện qua quá trình kiểm toán. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết hơn về nguyên nhân xác định mức trọng yếu thực hiện vượt quá khung và mức trọng yếu thực hiện vượt khung này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình Khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có).

4. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể

a) Ngưỡng sai sót không đáng kể là mức giá trị do KTVNN xác định mà sai sót dưới mức đó được coi là sai sót không đáng kể và tổng hợp các sai sót đó không ảnh hưởng trọng yếu đến BCTCDN; b) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và tỷ lệ phần trăm (%) tương ứng: Ngưỡng sai sót không đáng kể = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN c) KTNN xây dựng khung tỷ lệ để xác định ngưỡng sai sót không đáng kể khi kiểm toán BCTCDN từ 0%-3% mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN; d) Khung tỷ lệ quy định ở trên cung cấp định hướng cho KTVNN khi đưa ra các xét đoán trong việc xác định ngưỡng sai sót không đáng kể. Đối với từng cuộc kiểm toán cụ thể, KTVNN dựa trên xét đoán lựa chọn một tỷ lệ trong khung phù hợp với đặc điểm của cuộc kiểm toán. Những xét đoán của KTVNN và cơ sở chọn tỷ lệ đều phải phản ánh trên hồ sơ kiểm toán; đ) Trong một số trường hợp, ngưỡng sai sót không đáng kể có thể vượt khung hướng dẫn nói trên nếu như KTVNN xét đoán rằng ngưỡng đó là phù hợp. KTVNN cần phản ánh trong hồ sơ kiểm toán những diễn giải chi tiết hơn về nguyên nhân xác định ngưỡng sai sót không đáng kể vượt khung và ngưỡng sai sót không đáng kể vượt khung này phải được sự đồng ý của Lãnh đạo KTNN (Đoàn kiểm toán phải nêu rõ trong tờ trình khi xét duyệt KHKT tổng quát hoặc điều chỉnh KHKT tổng quát - nếu có); e) Đối với khoản mục cần lưu ý: Ngưỡng sai sót không đáng kể cũng xác định dựa trên mức trọng yếu đã xác đ

Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.

Texto original en vietnamita. Use la traducción del navegador si es necesario.