🇫🇷 Le document original est en vietnamien
Les lois vietnamiennes sont publiées uniquement en vietnamien. Le contenu ci-dessous est l'original. Utilisez la traduction intégrée de Chrome / Edge / Safari, ou:
Décision - Vietnam (2019)
🇻🇳 Original: Quyết định 31/2019/QĐ-UBND (2019)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúccủa Luật Lâm nghiệp; Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2014 của
Điều 3. Thông tin cấp dự báo cháy rừng
1. Chi cục Kiểm lâm là cơ quan chuyên ngành có trách nhiệm:
a) Theo dõi, xác định và thông tin cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn thành phố liên tục hằng ngày trong suốt mùa khô từ tháng 02 đến tháng 9 trong năm trên các phương tiện thông tin đại chúng khi dự báo đến cấp III trở lên. b) Triển khai, tổ chức các hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng theo từng cấp dự báo theo quy định. c) Chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm thực hiện thông tin cấp dự báo cháy rừng đến Ủy ban nhân dân xã, phường, các chủ rừng, các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn rừng ngay sau khi bản tin dự báo cháy rừng được phát hành và có hiệu lực.
2. Cơ quan, đơn vị phát thanh, truyền hình thành phố, quận, huyện phối hợp với
Cơ quan Kiểm lâm thành phố và quận, huyện tổ chức thông tin cấp dự báo cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng kịp thời trên sóng phát thanh, truyền hình thành phố và địa phương khi cấp dự báo cháy rừng đến cấp III trở lên.
Điều 4. Cấp dự báo cháy rừng và biện pháp phòng cháy rừng
Cấp dự báo cháy rừng thực hiện theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, cụ thể như sau: Cấp dự báo cháy rừng tại thành phố Đà Nẵng gồm 5 cấp, từ cấp I đến cấp V; ký hiệu biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng là 1/2 hình tròn có đường kính vành ngoài 2,5m; vành trong 1,8m, nền trắng, xung quanh viền màu đỏ có mũi tên (quay được) chỉ cấp dự báo từ cấp I đến cấp V.
1. Khi dự báo ở cấp I: Cấp thấp, ít có khả năng cháy rừng, khả năng xảy ra cháy
rừng thấp, trên biển báo mũi tên chỉ số I. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo Ban Chỉ đạo về Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) cấp xã và các chủ rừng phối hợp với lực lượng Kiểm lâm triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; phải tổ chức kiểm tra hướng dẫn khoanh vùng sản xuất nương rẫy, tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng dân cư về phòng cháy, chữa cháy rừng và hướng dẫn người dân phát, đốt nương rẫy đúng kỹ thuật.
2. Khi dự báo đến cấp II: Cấp trung bình, khả năng cháy rừng ở mức trung bình,
trên biển báo mũi tên chỉ số II. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo Ban Chỉ đạo cấp xã và các chủ rừng tăng cường kiểm tra, đôn đốc, bố trí người canh phòng, lực lượng và phương tiện thường trực sẵn sàng dập tắt lửa khi mới xảy ra cháy rừng, hướng dẫn người dân phát đốt nương rẫy đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy rừng.
3. Khi dự báo đến cấp III: Cấp cao, thời tiết khô hanh kéo dài, dễ xảy ra cháy
rừng và khả năng cháy lan trên diện rộng, trên biển báo mũi tên chỉ số III. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo Ban Chỉ đạo cấp huyện, Ban Chỉ đạo cấp xã, chủ rừng, Hạt Kiểm lâm tăng cường đôn đốc các chủ rừng thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, cấm đốt nương rẫy. Các chủ rừng phải thường xuyên canh phòng, nhất là đối với những vùng rừng trọng điểm dễ cháy bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng như: Thông, bạch đàn, keo lá tràm, tre, nứa và các loại rừng dễ cháy khác. Lực lượng trực phòng cháy, chữa cháy rừng phải trực 10/24 giờ trong ngày (từ 10h đến 20h hàng ngày). Các chủ rừng phải thường xuyên kiểm tra công tác trực phòng cháy, chữa cháy rừng và các hoạt động có thể gây ra cháy rừng trong lâm phận. Dự báo viên nắm chắc tình hình khí tượng, thuỷ văn để dự báo và thông báo kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng về cấp cháy và tình hình cháy rừng ở địa phương.
4. Khi dự báo cháy rừng đến cấp IV: Cấp nguy hiểm, thời tiết hanh khô kéo dài
có nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn, tốc độ lan tràn lửa nhanh. Trên biển báo mũi tên chỉ số IV. Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ban Chỉ đạo cấp huyện trực tiếp chỉ đạo các xã, phường về phòng cháy, chữa cháy rừng. Lực lượng Kiểm lâm và chủ rừng phải kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng rừng trọng điểm cháy ở các huyện, quận, xã, phường. Lực lượng canh phòng phải thường xuyên trên chòi canh, các vùng rừng trọng điểm cháy bảo đảm 12/24 giờ trong ngày, các giờ cao điểm (từ 9h đến 21h), phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động, thông tin kịp thời khi có cháy rừng xảy ra để Ban Chỉ đạo cùng cấp huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay, không được để lửa lan tràn rộng.
5. Khi dự báo đến cấp V: Cấp cực kỳ nguy hiểm, thời tiết khô, hanh, nắng hạn
kéo dài, thảm thực vật khô kiệt, nguy cơ cháy rừng rất lớn và lan tràn nhanh trên tất cả các loại rừng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và Ban Chỉ đạo cấp thành phố trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, chủ động và sẵn sàng ứng cứu chữa cháy rừng. Thông tin cảnh báo thường xuyên liên tục, kịp thời cấp dự báo cháy rừng ở vùng rừng trọng điểm dễ cháy. Tăng cường kiểm tra chặt chẽ người và phương tiện vào rừng. Nghiêm cấm tuyệt đối việc đốt lửa trong rừng và ven rừng. Lực lượng canh phòng trên các chòi canh và các vùng rừng trọng điểm cháy bảo đảm 24/24 giờ trong ngày. Lực lượng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phối hợp với lực lượng Kiểm lâm tăng cường kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng rừng trọng điểm cháy trong ngày, tăng cường kiểm tra người và phương tiện vào rừng; thông báo thường xuyên nội quy dùng lửa trong rừng và ven rừng. Khi xảy ra cháy rừng phải huy động lực lượng và phương tiện dập tắt ngay. Tất cả các vụ cháy rừng đều phải lập biên bản và có biện pháp xử lý nghiêm minh. Trong mùa cháy rừng hàng năm (từ tháng 02 đến hết tháng 9) dự báo viên phải nắm chắc tình hình thời tiết, khí hậu thuỷ văn để dự báo, thông tin thường xuyên, liên tục hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt khi dự báo đến cấp IV và cấp V dự báo viên phải dự báo và đảm bảo thông tin trong suốt thời kỳ cao điểm dễ cháy rừng và báo cáo kịp thời về việc phòng cháy, chữa cháy rừng lên cấp trên.
Điều 5. Bảng tra cấp dự báo cháy rừng
Bảng tra cấp dự báo cháy rừng áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng CẤP DỰ BÁO CHÁY RỪNG TẠI ĐÀ NẴNG I II III IV V THÁNG THEO CHỈ SỐ H 2 0 - 3 4 - 11 12 - 23 24 - 41 > 41 3 0 - 2 3 - 10 11 - 25 26 - 39 > 39 4 0 - 2 3 - 9 10 - 20 21 - 38 > 38 5 0 - 2 3 - 8 9 - 12 13 - 26 > 26 6 0 - 2 3 - 7 8 - 11 12 - 19 > 19 7 0 - 2 3 - 6 7 - 10 11 - 18 > 18 8 0 - 3 4 - 5 6 - 9 10 - 17 > 17 9 0 - 3 4 - 11 12 - 23 24 - 41 > 41 THEO CHỈ SỐ P 0-400 401-3400 3401-7800 7801-14000 > 14000 Trong đó: a) Chỉ số H là chỉ số ngày khô hạn liên tục không mưa hoặc mưa có lượng mưa dưới 5mm của TS. Phạm Ngọc Hưng. b) Chỉ số P là chỉ tiêu tổng hợp về khả năng xuất hiện cháy rừng của V.G Nesterop. Chỉ tiêu P được tính theo công thức: P = k*∑ ti13*di13 Pi= k * ti13*di13, trong đó: - Pi là chỉ tiêu tổng hợp P của ngày thứ i tính theo công thức có ka điều chỉnh khi lượng mưa a ở mức 5mm; - k = 0 khi lượng mưa ngày thứ i (Ri) lớn hơn hoặc bằng 5; - k = (5-Ri)/5 khi lượng mưa ngày thứ i lớn hơn 0 và nhỏ hơn 5; - ti13 nhiệt độ không khí lúc 13 giờ (0C) ngày thứ i; - di13: độ chênh lệch bão hoà độ ẩm không khí lúc 13 giờ (mb) ngày thứ i;
Điều 6. Tổ chức lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp
1. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng cấp thành phố
a) Chi cục Kiểm lâm (Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng) và Lực lượng Công an thành phố (Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ) là lực lượng chính; Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố; các đơn vị quân đội trung ương đóng chân trên địa bàn thành phố, các lực lượng khác là lực lượng phối hợp tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động của cơ quan có thẩm quyền. b) Khi nhận được tin báo cháy rừng và đề nghị hỗ trợ của Ban Chỉ đạo cấp huyện thì Ban Chỉ đạo cấp thành phố huy động, chỉ đạo lực lượng chính về phòng cháy, chữa cháy rừng cấp thành phố tổ chức triển khai phối hợp với các lực lượng chữa cháy trên địa bàn cơ động nhanh đến hiện trường, ứng cứu chữa cháy kịp thời; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, bắt giữ, điều tra, truy tìm thủ phạm gây cháy rừng. c) Trong trường hợp cháy rừng lớn trên diện rộng vượt quá khả năng kiểm soát của thành phố: Bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, Trưởng Ban Chỉ đạo cấp thành phố (hoặc ủy quyền cho Phó Trưởng ban thường trực) báo cáo Ban Chỉ đạo Nhà nước Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đề nghị hỗ trợ tăng cường lực lượng, phương tiện cho địa phương tham gia chữa cháy rừng.
2. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện
a) Hạt Kiểm lâm cấp huyện, Đội Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ thuộc Công an quận, huyện là lực lượng chính; Công an, Cơ quan Quân sự cấp huyện, các lực lượng khác là lực lượng phối hợp tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động của cơ quan có thẩm quyền. b) Khi nhận được tin báo cháy rừng hoặc đề nghị hỗ trợ của Ban Chỉ đạo cấp xã, Ban Chỉ đạo cấp huyện tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện huy động, chỉ đạo lực lượng chính về phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện có trách nhiệm tổ chức triển khai phối hợp với các lực lượng chữa cháy trên địa bàn cơ động nhanh đến hiện trường, ứng cứu chữa cháy kịp thời; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, bắt giữ, điều tra, truy tìm thủ phạm gây cháy rừng. c) Trong trường hợp cháy rừng lớn trên diện rộng vượt quá khả năng kiểm soát của quận, huyện: Bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, Trưởng Ban Chỉ đạo cấp huyện (hoặc ủy quyền cho Phó Trưởng ban thường trực) báo cáo Ban Chỉ đạo cấp thành phố đề nghị hỗ trợ tăng cường lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng.
3. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã
a) Kiểm lâm địa bàn là lực lượng tham mưu giúp Ban Chỉ đạo cấp xã xây dựng phương án, kế hoạch và tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. Lực lượng chính trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã là kiểm lâm địa bàn, lực lượng Công an cấp xã, lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng và các tổ, đội bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng của thôn, làng, tổ dân phố; các lực lượng khác là lực lượng phối hợp tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động của cơ quan có thẩm quyền. b) Khi nhận được tin báo cháy rừng hoặc đề nghị nghị hỗ trợ chữa cháy rừng của chủ rừng, Ban Chỉ đạo cấp xã có trách nhiệm tham mưu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện chỉ huy, tổ chức điều động lực lượng, phương tiện, dụng cụ tại địa phương tham gia chữa cháy. c) Trong trường hợp cháy rừng lớn trên diện rộng vượt quá khả năng kiểm soát của xã, phường: Bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, Trưởng Ban Chỉ đạo cấp xã báo cho Ban Chỉ đạo cấp huyện qua cơ quan thường trực đề nghị hỗ trợ tăng cường lực lượng, phương tiện phối hợp chữa cháy rừng.
4. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng của chủ rừng
a) Tất cả các đơn vị chủ rừng phải thành lập các tổ, đội bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của đơn vị và bảo đảm kinh phí, trang bị phương tiện và các điều kiện để duy trì hoạt động của tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng trực thuộc đơn vị quản lý. b) Khi xảy ra cháy rừng, Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm chỉ huy, tổ chức điều động lực lượng, phương tiện, dụng cụ tại đơn vị tham gia chữa cháy rừng. Trong trường hợp cháy lớn vượt quá khả năng kiểm soát của đơn vị: Bằng phương tiện thông tin nhanh nhất, chủ rừng phải báo cáo và phối hợp với Ban Chỉ đạo cấp xã tổ chức huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng; đồng thời Ban Chỉ đạo cấp xã báo cáo Ban Chỉ đạo cấp huyện qua cơ quan thường trực để theo dõi chỉ đạo.
5. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, đơn vị vũ trang đóng trong rừng
hoặc có hoạt động sản xuất, kinh doanh trong rừng, ven rừng phải phối hợp với nhau để thành lập các đội tình nguyện phòng cháy, chữa cháy rừng và phải có trách nhiệm phối hợp với Ban Chỉ đạo của địa phương và chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ chuyên môn phòng cháy, chữa cháy rừng của Ban Chỉ đạo.
Điều 7. Hệ thống thông tin liên lạc
1. Ban Chỉ đạo các cấp phải duy trì đều đặn, thông suốt hệ thống thông tin (số
điện thoại của Trưởng Ban Chỉ đạo, cơ quan thường trực Ban chỉ đạo, thủ trưởng đơn vị) từ Ban Chỉ đạo cấp thành phố đến Ban Chỉ đạo cấp huyện, xã, các Hạt Kiểm lâm, Trạm Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng, các chủ rừng.
2. Ban Chỉ đạo các cấp phân công, phân nhiệm cụ thể cơ quan thường trực Ban
Chỉ đạo tiếp nhận và xử lý thông tin về phòng cháy, chữa cháy rừng ở cấp mình để duy trì thông tin liên hệ và kịp thời xử lý khi có tình huống cháy rừng xảy ra.
Điều 8. Đào tạo, tập huấn nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy rừng
1. Hàng năm, lực lượng bảo vệ rừng của cơ sở, các tổ, đội quần chúng phòng
cháy, chữa cháy rừng phải được đào tạo, huấn luyện. Tùy theo từng cấp, từng đối tượng để có phương pháp đào tạo, huấn luyện thích hợp. Một số nội dung chính cần thiết trong đào tạo, huấn luyện như sau: a) Các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. b) Kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng và các ứng dụng công nghệ mới trong phòng cháy, chữa cháy rừng; khắc phục hậu quả của cháy rừng (trong đó có cả nghiệp vụ điều tra, pháp chế). c) Năng lực chỉ huy, kỹ thuật cứu nạn, cứu hộ trong phòng cháy, chữa cháy rừng. d) Kỹ năng công tác cộng đồng và tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phòng cháy, chữa cháy rừng.
2. Cơ quan Kiểm lâm có trách nhiệm tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy rừng chuyên ngành; lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng và lực lượng bảo vệ rừng của cơ sở.
3. Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Công an thành
phố có trách nhiệm hướng dẫn và phối hợp với cơ quan Kiểm lâm thực hiện những quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Việc huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phòng cháy và chữa cháy
cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy.
c) Chủ rừng phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; chịu
trách nhiệm nếu để rừng do mình quản lý bị cháy.
d) Cơ quan Kiểm lâm có trách nhiệm tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cùng cấp
chỉ đạo, thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng như: ban hành các quy định
về đảm bảo an toàn trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong phạm vi quản lý
của cấp mình, hướng dẫn các chủ rừng trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng.
đ) Lực lượng Công an, Quân đội các cấp có trách nhiệm phối hợp với lực lượng
Kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
e) Cơ quan Kiểm lâm các cấp có trách nhiệm tổ chức dự báo cháy rừng và thông
tin kịp thời các cấp dự báo cháy rừng đến Uỷ ban nhân dân cùng cấp nơi có rừng trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng trong suốt mùa cháy rừng.
Chương II
QUY ĐỊNH VỀ CẤP DỰ BÁO CHÁY RỪNG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG
Điều 9. Quản lý sản xuất nương rẫy
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức quản lý hoạt động sản xuất nương rẫy
trên địa bàn; chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Uỷ ban nhân dân cấp xã tham mưu quy vùng sản xuất nương rẫy cho Nhân dân phù hợp với quy hoạch Lâm nghiệp của thành phố. Chỉ đạo các ngành chức năng hướng dẫn Nhân dân thực hiện đúng khu vực phân vùng, xác định rõ ranh giới, có mốc, bảng niêm yết ngoài thực địa. Hàng năm Hạt Kiểm lâm tăng cường kiểm tra, hướng dẫn Nhân dân sản xuất nương rẫy đúng quy định trên những vùng đất đã được khoanh vùng, không để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép làm nương rẫy.
2. Trong những vùng được phép sản xuất nương rẫy, Hạt Kiểm lâm cùng với các
đơn vị liên quan, Uỷ ban nhân dân xã, phường hướng dẫn Nhân dân kỹ thuật đốt dọn nương rẫy, đốt xử lý thực bì để trồng rừng, khai thác rừng trồng đúng quy định.
3. Uỷ ban nhân dân xã, phường tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy
và chữa cháy rừng đối với các hộ dân có nương rẫy gần rừng, đặc biệt là rừng trồng. Tuyên truyền cho người dân biết những quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng.
4. Một số quy định cụ thể trong đốt dọn nương rẫy, xử lý thực bì:
a) Chỉ được đốt dọn trong vùng được phép làm nương rẫy, khi làm rẫy phải phát dọn toàn bộ thực bì, phơi khô và vun thành dải rộng 2-3 m, khoảng cách các dải là 5m - 6 m; dải sát bìa rừng cách xa rừng 6m - 8 m. b) Khi đốt thực bì phải đốt lúc gió nhẹ, đốt vào chiều tối hoặc sáng sớm (trước 9 giờ 00 buổi sáng và sau 16 giờ 00 buổi chiều), đốt lần lượt từng dải, thứ tự từ trên sườn đồi xuống chân đồi. c) Trước khi đốt rẫy, xử lý thực bì, người sử dụng lửa phải báo với UBND xã, phường. Chỉ được phép đốt sau khi được sự kiểm tra đảm bảo an toàn trong phòng cháy, chữa cháy rừng và đồng ý cho phép đốt của UBND xã, phường sở tại. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin xin đốt xử lý thực bì của người dân, UBND xã, phường chỉ đạo các bộ phận chức năng tại địa phương tiến hành kiểm tra đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy rừng và trả lời cho người dân. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những trường hợp cố ý sử dụng lửa đốt xử lý thực bì, đốt rẫy khi chưa có sự kiểm tra và đồng ý cho phép của UBND xã, phường. - Khi đốt rẫy phải có người canh gác và chuẩn bị đảm bảo dụng cụ chữa cháy rừng, khoảng 10m - 15m có một người gác trên dải để đề phòng và dập tắt ngay các đám lửa cháy lan, không để lửa cháy lan vào rừng, đốt xong phải kiểm tra toàn bộ nương rẫy, khi lửa tắt hẳn mới ra về. - Trong điều kiện thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, có thông tin dự báo cháy rừng từ cấp III trở lên, chính quyền địa phương không xem xét cho phép dùng lửa đốt xử lý thực bì, đốt nương rẫy. d) Một số phương pháp xử lý thực bì không sử dụng lửa: Áp dụng ở những nơi địa hình có độ dốc lớn hoặc khi sử dụng lửa có thể gây ra nguy cơ cháy rừng cao: - Phương pháp xử lý thực bì bằng cách để mục theo băng: Thực bì sau khi phát để khô rụng hết lá, băm nhỏ dọn thành băng theo đường đồng mức, sao cho không ảnh hưởng đến việc làm đất trên băng trồng cây sau này. - Phương pháp xử lý thực bì bằng biện pháp băm nhỏ rãi đều để mục: Thực bì sau khi phát dọn để trồng rừng và sản xuất nương rẫy, để khô rụng lá sau đó được băm nhỏ rãi đều trên toàn diện tích trồng. - Phương pháp xử lý bằng biện pháp thu gom: Thực bì sau khi phát dọn để trồng rừng và sản xuất nương rẫy, để khô rụng hết lá. Cành nhánh sau đó được
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.
Texte original en vietnamien. Utilisez la traduction du navigateur si nécessaire.