Mục lục - 3 điều ▼
Điều 39. ; Điều 91; Điều 92; Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 165,
Điều 166. , Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 129, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ
luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 100, 166, 167 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D.
Buộc ông Nguyễn Đình T và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên P Tuấn N liên đới thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 369 và thửa 370 cùng tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại khóm B,
thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) cho ông Trần
Văn D.
Ông Trần Văn D được tiếp tục sử dụng diện tích 90m2 thuộc thửa đất 369
tờ bản đồ số 35 và diện tích 90m2 thuộc thửa đất 370 tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc
tại khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H.
Buộc ông Nguyễn Đình T và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
P Tuấn N liên đới thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 371, tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại khóm B, thị trấn L, huyện L,
tỉnh Đồng Tháp (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp) cho ông Lê Thanh H.
Ông Lê Thanh H được tiếp tục sử dụng diện tích 90m2 thuộc thửa đất 371
tờ bản đồ số 35 đất tọa lạc tại khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay
là xã H, tỉnh Đồng Tháp).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để kê khai, đăng ký, điều chỉnh Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên đối với thửa đất 369, 370,
371, cùng tờ bản đồ số 35, đất tọa lạc tại khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng
Tháp, do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên P Tuấn N đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc tranh chấp số 73/SĐ/CNVP.ĐKĐĐ 2020 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 19/5/2020).
-- 8 of 13 --
9
3. Buộc ông Trần Văn D trả cho Công ty TNHH MTV P và ông Nguyễn
Đình T số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
* Ngày 03/10/2025, nguyên đơn Trần Văn D có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Đồng Tháp, yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm số: 79/2025/DS-ST, ngày
30/9/2025 cụ thể như sau: Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 79/2025/DS-
ST, ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp. Chấp nhận
toàn bộ yêu cầu của ông Trần Văn D, bác yêu cầu của ông Lê Thanh H.
* Ngày 15/10/2025, bị đơn công ty TNHH MTV P Tuấn N và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình T có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Đồng Tháp yêu cầu Sửa toàn bộ
bản án dân sự sơ thẩm số 79/2025/DS-ST, ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân
Khu vực 7 - Đồng Tháp. Bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận yêu
cầu độc lập của Công ty TNHH MTV P Tuấn N là bị đơn và ông Nguyễn Đình
T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và
yêu cầu kháng cáo, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
vụ án.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày lý lẽ
bảo vệ cho nguyên đơn : Tòa án sơ thẩm đã vi phạm tố tụng , đánh giá chứng
cứ không chính xác ; Vi phạm về phạm vi giải quyết vụ án theo Điều 5 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Án sơ thẩm chỉ giải quyết các thửa đất 369,370 , không giải
quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu đối với thửa đất số 371; Thửa đất số 371 là
giao dịch vay tiền giữa ông H và Cty Tuấn N; Đối với thửa đất số 369,370 bản
chất là nền tái định cư , không phải giao dịch chuyển nhượng. Đề nghị Hội
đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm . trường hợp Tòa án không hủy án thì đề nghị
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Tòa án sơ
thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng : Cụ thể, Tòa án thụ lý vụ án số 56,
Ông H khởi kiện thì Tòa án thụ lý vụ án số 90 . Tại quyết định số 709 của Tòa
án đã nhập 02 vụ án nêu trên . Sau đó tách ra thành 02 vụ án . Tại phiên tòa
ngày 30/9/2025 đã giải quyết yêu cầu của cả hai vụ án ; Biên bản nghị án
không đúng với trình tự của phiên tòa sơ thẩm; Tòa án sơ thẩm chưa thu thập
chứng cứ để làm rõ thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty P
và thẩm quyền của ông Nguyễn Đình T trong xác lập các giao dịch dân sự; Đề
nghị hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản bản án sơ thẩm theo qui định
tại khỏan 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-- 9 of 13 --
10
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý
kiến của Kiểm sát viên,đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng : Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét
xử sơ thẩm thì Nguyên đơn Trần Văn D;Cty TNHH một thành viên phát triển
đô T6; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đình T cùng kháng
cáo bản án trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy
đủ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;
[1.1]Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm : bà
Đinh Thị S, ông Lê Hồng T2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H và Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp có văn bản xin giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo qui định tại khoản 2
Điều 296. của Bộ luật tố tụng dân sự;
[2] Về nội dung vụ án : Ông Trần Văn D khởi kiện Cty TNHH một thành
viên phát triển đô T6 (gọi tắt là Cty Tuấn N) và ông Nguyễn Đình T yêu cầu
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất số
369,370 và 371 do Cty Tuấn Nguyễn đứng tên quyền sử dụng đất ; Ông Lê
Thanh H có đơn khởi kiện yêu cầu C3 Nguyễn phải thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng đất đối với thửa đất 371.
[3] Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án sơ thẩm , Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy Tòa án sơ thẩm đã vi phạm về tố tụng và nội dung như sau :
[3.1] Ngày 25/02/2020 Tòa án sơ thẩm có thông báo thụ lý vụ án số
56/TB-TLVA ( bút lục số 44) đối với nguyên đơn là ông Trần Văn D khởi kiện
bị đơn là Cty Tuấn N và người có liên quan ông Nguyễn Đình T tranh chấp
thửa đất số 369,370 và 371;
Ngày 08/03/2021 Tòa sơ thẩm thụ lý đơn khởi kiện của ông Lê Thanh H
khởi kiện bị đơn là Cty Tuấn N và người có liên quan ông Nguyễn Đình T
tranh chấp thửa đất số 371 theo thông báo thụ lý vụ án số 90/TB-TLVA (bút
lục 403).
Ngày 02/6/2021 Tòa án sơ thẩm ra quyết định nhập vụ án số
709/2021/QĐ-NVA ( bút lục 423) về việc nhập vụ án đã thụ lý số
90/2021/TLST-DS ngày 05/3/2021 vào vụ án thụ lý số 56/2020/TLST-DS ngày
25/02/2020 ;
Ngày 20/9/2024, Tòa án sơ thẩm có quyết định tách vụ án số
709/2024/QĐ-TVAQ ( bút lục 644) , tách thành 02 vụ án thụ lý số
90/2021/TLST-DS ngày 05/3/2021 và vụ án thụ lý số 56/2020/TLST-DS ngày
25/02/2020 ;
-- 10 of 13 --
11
Ngày 08/7/2025 Tòa sơ thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số
07/2025/QĐXXST-DS ( bút lục 657) ấn định ngày xét xử là ngày 31/7/2025;
Ngày 31/7/2025 Tòa án sơ thẩm ra quyết định hoãn phiên tòa số
65/2025/QĐ-ST , theo nội dung quyết định này này lại căn cứ vào quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-DS ngày 08/7/2025. Hồ sơ vụ án
không có quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-DS ;
Ngày 29/8/2025 Tòa án sơ thẩm có thông báo số 65/TB-TA mở lại phiên
tòa vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 25/9/2025;
Căn cứ biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 25/9/2025 ( bút lục 692) . Theo
nội dung biên bản phiên tòa thể hiện phiên tòa diễn ra lúc 08 giờ ngày
25/9/2025, khi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa hỏi đến 16 giờ 10 phút ngày
25/9/2025 thì tạm ngừng phiên tòa , đến 11 giờ ngày 30/09/2025 thì phiên tòa
tiếp tục phần hỏi các đương sự và chuyển sang phần tranh luận. Sau đó phiên
tòa kết thúc vào lúc 12 giờ ngày 30/9/2025. Biên bản phiên tòa thể hiện Hội
Thẩm nhân dân tham gia hội đồng xét xử là Nguyễn Phát Triển , Quang Kim
Cúc.
Tại biên bản nghị án ( bút lục 694) thể hiện , việc nghị án lúc 11 giờ 50
phút ngày 25/9/2025, thành phần hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là ông
Nguyễn Chí C1 và bà Quang Kim C2.Biên bản nghị án kết thúc lúc 10 giờ 15
phút ngày 30/9/2025, Hội thẩm ký tên biên bản là Nguyễn Phát T4 và Quang
Kim C2 . Như vậy cần xem xét ông Nguyễn Chí C1 hay ông Nguyễn Phát T4 là
thành viên của hội đồng xét xử. Tại bản án gốc có trong hồ sơ vụ án thì thể
hiện phiên tòa chỉ diễn ra trong ngày 30/9/2025 ( bút lục 702-708) . Do đó, theo
diễn biến phiên toà thể hiện trong biên bản phiên tòa thì ngày 25/9/2025, hết
ngày 25/9/2025 Tòa ngừng phiên toàn đến 11 giờ ngày 30/9/2025 thì phiên tòa
tiếp tục diễn ra đến phần hỏi và tranh luận. Nhưng hội đồng xét xử lại nghị án
lại kết thúc lúc 10 giờ 15 phút ngày 30/9/2025. Do đó tòa án sơ thẩm đã vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng .
[3.2] Quá trình tố tụng vụ án , sau khi nhập vụ án thì Tòa án sơ thẩm lại
tiếp tục tách vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Thanh H được thụ lý
theo thông báo thụ lý vụ án số 90/2021/TLST-DS ngày 05/3/2021. Tuy nhiên,
bản án sơ thẩm số 79/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 lại giải quyết luôn yêu cầu
khởi kiện của ông Lê Thanh H và hoàn trả tạm ứng án phí cho ông H. Căn cứ
theo quyết định tách vụ án số 709/2024/QĐ-TVAQ Ngày 20/9/2024 thì Tòa án
sơ thẩm đã giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự, vi phạm điều 5
của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.3] Tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên
tòa thể hiện, vào cuối năm 2010 đầu năm 2011 đã có sự thỏa thuận về việc thu
hồi đất và bố trí nền tái định cư giữa ông Trần Văn D và ông Nguyễn Đình T .
Ngày 26/05/2014 thì Công TNHH phát triển đô thị Tuấn N mới được thành lập
, đến năm 2017 thì đổi tên thành Cty TNHH một thành viên phát triển đô T6.
Tòa án sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ để làm rõ, thời gian năm 2010,2011 thì
-- 11 of 13 --
12
ông Nguyễn Đình T thỏa thuận với ông Trần Văn D với tư cách cá nhân ông T
hay với tư cách pháp nhân nào? Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện người đai diện
theo pháp luật của Cty Tuấn N là ông Nguyễn Đình K. Do đó, cần thu thập
chứng cứ để làm rõ quá trình thỏa thuận và giao dịch của ông Nguyễn Đình T
với ông Trần Văn D và ông Lê Thanh H là giao dịch cá nhân ông T hay nhân
danh công ty , nếu ông T nhân danh công ty thì có phù hợp với qui định của
Điều lệ hoạt động của Cty Tuấn N thời điểm phát sinh giao dịch . Tòa sơ thẩm
cũng chưa làm rõ đối với 03 thửa đất đang tranh chấp (369,370,371) thể hiện từ
tên cá nhân ông T , chuyển sang tên Cty Tuấn N đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất . Bởi lẽ, việc đứng tên cá nhân hay đứng tên pháp nhân đối
với quyền sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc đánh giá chứng cứ trong việc ông
Nguyễn Đình T giao dịch với ông D và ông H.
[4] Từ những căn cứ phân tích như trên , xét thấy các sai sót của Tòa án sơ
thẩm , tòa phúc thẩm không thể khắc phục được. Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy toàn bộ bản án sơ thẩm theo qui định tại khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố
tụng dân sự. Do hủy án sơ thẩm nên chưa xem xét yêu cầu kháng cáo của các
đương sự.
[5] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn về việc đề nghị hủy án sơ thẩm là có căn cứ, được chấp nhận.
[6]Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm : Do hủy án sơ thẩm nên hòan lại tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng
dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu,nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Ủ
Thường Vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH
1. Hùy toàn bộ án án Dân sự sơ thẩm số 79/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp đã xét xử vụ án tranh
chấp “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.giữa nguyên đơn là Trần
Văn D và bị đơn là Cty TNHH một thành viên phát triển đô T6.
2. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 7-Đồng Tháp thụ lý giải quyết
theo qui định của pháp luật.
3. Về án phí phúc thẩm:
Hoàn lại Cty TNHH một thành viên phát triển đô T6 số tiền 300.000đồng
tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0006367 ngày 29/10/2025; H2 lại
ông Nguyễn Đình T số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai
-- 12 of 13 --
13
thu số 0006366 ngày 29/10/2025; Cả hai biên lai của thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Tuyên án công khai lúc 08 giờ 30 phút ngày 02/4/2026.
Nơi nhận:
- Tòa PT- TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND Khu vực 2 – Đồng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 2 – Đồng Tháp;
- Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Văn Đạt
-- 13 of 13 --