CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc444/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 về việc: “Ly hôn và tranh
2
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 143, cấp ngày 10/9/2018, hôn nhân tự
nguyện.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do
bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp. Từ năm 2022 đến nay, bà B và
ông Q không còn sống chung với nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn,
không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân
không đạt được nên bà B yêu cầu ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà B và ông Q có 01 con chung tên Dương Gia K1, sinh
ngày: 02/9/2018. Hiện cháu K1 đang sống cùng ông bà nội tại xã K, tỉnh Đắk
Lắk từ năm 2020 cho đến nay. Bà B thường xuyên về thăm con, hàng tháng gửi
tiền về nuôi cháu K1. Khi ly hôn, bà B yêu cầu giao cháu K1 cho ông Q nuôi
dưỡng, chăm sóc. Bà B cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng
cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/8/2025, ông Dương Hoàng Q trình bày:
Ông Q thống nhất với lời trình bày của bà B về quan hệ hôn nhân, mâu
thuẫn vợ chồng và con chung. Nay bà B xin ly hôn, ông Q đồng ý.
Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông Q yêu cầu được nuôi con
chung, yêu cầu bà B cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q thống nhất với ý kiến của bà B.
3. Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực
18 - Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định;
nguyên đơn, bị đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lô Thị B vắng mặt có đơn đề nghị
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.