CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 17 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cao
2
chung với bố mẹ chồng tại xóm L, xã T. Cuộc sống chung trong thời gian đầu
hòa thuận và hạnh phúc. Tuy nhiên, khi sống chung được 01 năm thì thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm nhau, hai vợ chồng không có tiếng
nói chung với nhau. Trong quá trình xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên
khuyên nhủ và hòa giải nhưng cả hai vẫn không hàn gắn và hòa hợp được. Mâu
thuẫn vợ chồng càng ngày càng trầm trọng chị N và anh H đã ly thân từ tháng 02
năm 2024 đến nay. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích
hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Văn H.
- Về con chung: Có 01 con chung, tên Hoàng Khánh H1, sinh ngày
26/6/2022. Khi ly hôn chị N đề nghị để anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
cháu Hoàng Khánh H1 và chị N cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000
đồng/tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án xem
xét, giải quyết.
Bị đơn Hoàng Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên
không tiến hành hòa giải được. Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng đã lập
biên bản không tiến hành hòa giải được làm căn cứ giải quyết vụ án.
Qua xác minh tại địa phương và Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh
Hoàng Văn H thể hiện: Anh và chị N tự nguyện kết hôn và chung sống cùng bố
mẹ đẻ anh H tại xóm L, xã T, tỉnh Cao Bằng. Quá trình sống chung thòi gian
đầu hạnh phúc. Từ tháng 02 năm 2024 hai vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay.
Vào khoảng tháng 6 năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị N bỏ đi dù
anh H không đánh, chửi. Anh H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án
nhưng vì bận công việc nên không đến Tòa tham gia tố tụng được nên anh đã có
đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H đồng ý ly hôn với chị N, cả hai có 01 con
chung, tên Hoàng Khánh H1, sinh ngày 26/6/2022. Anh H nhất trí với đề nghị
của chị N để anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Khánh H1 và
chị N cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ
chung anh H xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.