Mục lục - 3 điều ▼
Điều 2. Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21-6-2007 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp là
không quá 6 ha (60.000m2), đối với diện tích vượt hạn mức trên thì cá nhân, hộ
gia đình được tiếp tục sử dụng và phải liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện việc thuê đất. Do vậy, xét thấy cần công nhận quyền sử dụng
diện tích 60.000m2 thuộc thửa đất số 15 cho vợ chồng bà H, ông T1; đồng thời,
bà H và ông T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực
hiện việc thuê đất đối với diện tích đất vượt hạn mức theo quy định.
[2.1.4] Về tài sản gắn liền trên phần đất tranh chấp: Căn cứ Chứng thư
thẩm định giá ngày 21-02-2022 của Công ty Cổ phần T5 thì trên thửa đất số 15
có những tài sản sau: Nhà tạm 1 diện tích 24m2 cấu trúc mái lợp tôn fibro xi
măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, 02 cửa gỗ bọc tôn, vách tôn mạ kẽm fibro
xi măng + gỗ, nền đất; nhà tạm 2 diện tích 23,5m2 cấu trúc mái lợp tôn fibro xi
măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, vách tôn mạ kẽm fibro xi măng + gỗ, nền
đất; 02 cống xả dài 20m, thành bê tông cốt thép dày 15cm, thành giữa bê tông
cốt thép dày 15cm, đáy đổ bê tông cốt thép dày 20cm, tấm đan bê tông cốt thép
dày 8cm; 05 cái kiệt tháo tôm dài 12m, bê tông cốt thép rộng 1m cao 1m. Tổng
giá trị tài sản là 233.442.500 đồng. Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận toán bộ
tài sản trên do ông V, bà M xây dựng. Xét đây là các tài sản gắn liền trên đất,
nếu buộc ông V, bà M di dời toàn bộ số tài sản trên ra khỏi thửa đất số 15 sẽ
không đảm bảo giá trị sử dụng của tài sản, gây thiệt hại cho bị đơn. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bà H và ông T1 cũng đồng ý nhận những tài sản trên và thanh toán
giá trị cho bị đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận quyền sở hữu
các tài sản này cho bà H, ông T1 và buộc bà H, ông T1 thanh toán giá trị cho bị
đơn theo giá đã được thẩm định giá.
[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Bản cam kết ngày 30-8-
2013:
Nguyên đơn bà H yêu cầu hủy bản cam kết ngày 30-8-2013 về việc nhờ
ông V, bà M đứng tên hộ diện tích 113.774,1m2 đất tại thửa đất số 15 và hứa
thưởng số tiền 3,5 tỷ đồng. Tại cấp sơ thẩm, bị đơn cũng đồng ý hủy bản cam
-- 17 of 22 --
18
kết nêu trên. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn vẫn khẳng định giấy cam kết này không
có thật, đồng ý hủy Giấy cam kết này và không có yêu cầu gì khác. Do vậy, cấp
sơ thẩm tuyên hủy Giấy cam kết trên là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với
số tiền 1,8 tỷ đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-2013 và Giấy hẹn ngày
29-10-2013, bị đơn xác nhận không yêu cầu Toà án giải quyết khoản tiền nếu
trên trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu các đương sự có
tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[4] Từ những phân tích và nhận định ở trên, xét thấy không có căn cứ để
chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc sửa bản án sơ thẩm
theo hướng bác các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn. Hội đồng xét xử thống nhất chỉ sửa một phần bản án về việc thanh
toán giá trị tài sản gắn liền trên đất như đã phân tích trên, giữ nguyên các quyết
định còn lại của bản án sơ thẩm.
[5] Đối với đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho cấp
sơ thẩm để giải quyết lại của đại diện Viện kiểm sát:
Đối với các tài liệu, chứng cứ do bị đơn mới cung cấp tại cấp phúc thẩm:
Đây là các chứng cứ bị đơn không xuất trình ở cấp sơ thẩm nên cấp sơ thẩm
không xem xét, đánh giá. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn mới cung cấp các
chứng cứ này. Hội đồng xét xử đã hỏi, đối chất làm rõ các chứng cứ này và các
tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án và không phát sinh yêu cầu mới liên
quan đến các chứng cứ này.
Đối với việc không đưa ông Phan Tuấn P, bà Nguyễn Thị T3 tham gia tố
tụng: Tại cấp phúc thẩm, ông P, bà T3 có văn bản yêu cầu được tham gia tố tụng
vì có đầu tư, sửa chữa nhà cửa và tài sản trên đất tranh chấp. Tuy nhiên, ông T4,
bà T3 chỉ có lời khai, không có chứng cứ gì chứng minh việc có đầu tư, đóng
góp vào tài sản trên đất tranh chấp. Đồng thời, luật sư của bị đơn cũng cung cấp
cho Toà án Biên bản làm việc ngày 23-5-2026 ghi nhận ý kiến của ông P, bà T3
xác nhận ông bà chỉ trông coi, hỗ trợ cha mẹ là ông V, bà M trong việc sử dụng
thửa đất số 15, không có đóng góp hay đầu tư gì trên đất và không có bất cứ yêu
cầu gì trong vụ án này, nên ông bà rút toàn bộ yêu cầu liên quan đến việc tham
gia tố tụng trong vụ án này (Bl 561). Ông P, bà T3 xác nhận lời khai tại biên bản
làm việc trên đúng là của ông bà. Vì thế, không cần thiết đưa ông P, bà T3 vào
làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Vì vậy, không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát.
[6] Về chi phí sao lục hồ sơ, đo đạc, định giá tài sản: Tổng chi phí định giá,
đo đạc và sao lục tài liệu chứng cứ là 10.000.000 đồng, nguyên đơn bà H tự
nguyện nộp toàn bộ và đã nộp xong.
Tổng chi phí thẩm định giá là 100.000.000 đồng, bị đơn ông V và bà M
phải chịu và đã nộp xong.
Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm là 3.750.000 đồng, bị đơn phải chịu và
đã nộp xong.
[7] Về án phí:
-- 18 of 22 --
19
[7.1] Án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận; phải chịu án phí không có giá ngạch do yêu cầu phản tố không được
chấp nhận. Tuy nhiên, do các bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bà Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí trên số tiền
phải thanh toán cho bị đơn, được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng phí
đã nộp, theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000730 ngày 23-
6-2020 và số 0005147 ngày 02-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[7.2] Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông V, bà M được miễn do là người cao
tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn V, bà
Trịnh Thị M, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều
39, Điều 235, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 71,
Điều 106. Luật Đất đai năm 2003; Điều 210 Luật Đất đai năm 2013; Điều 122,
Điều 129. , Điều 697, Điều 698, Điều 699, Điều 702 Bộ luật Dân sự 2005; Điều
129 Bộ luật Dân sự 2015; Án lệ số 55/2022/AL; Điều 2 Nghị quyết số
1126/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 21-6-2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H về việc tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Phan Văn V, bà
Trịnh Thị M.
1.1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24-01-
2013 giữa ông Phan Văn V, bà Trịnh Thị M và bà Nguyễn Thị Thu H có hiệu
lực pháp luật.
1.2. Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 được quyền sử dụng
diện tích 60.000m2 đất nuôi trồng thủy sản trong hạn mức thuộc thửa đất số 15,
tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh), được Ủy ban nhân dân thị xã B cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AD 826630 ngày 05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 được quyền tiếp tục quản lý,
sử dụng diện tích 53.774,1m2 đất nuôi trồng thủy sản ngoài hạn mức thuộc thửa
đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), đồng thời ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn
-- 19 of 22 --
20
Thị Thu H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện
việc thuê đất đối với diện tích đất ngoài hạn mức này theo quy định của pháp
luật đất đai.
(Vị trí và diện tích đất nêu trên được xác định theo Trích lục bản đồ địa
chính ngày 27-01-2021, kèm theo bản án).
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 có quyền, nghĩa vụ liên hệ
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
1.3. Buộc ông Phan Văn V, bà Trịnh Thị M có trách nhiệm thu hoạch thủy,
hải sản hiện có trên đất để giao trả diện tích đất 113.774,1m2 tại thửa đất số 15,
tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường L,
Thành phố Hồ Chí Minh) cho bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1.
1.4. Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 được quyền sở hữu các
tài sản gắn liền trên thửa đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B (nay là
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) bao gồm: Nhà tạm 1 diện tích 24m2 cấu
trúc mái lợp tôn fibro xi măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, 02 cửa gỗ bọc tôn,
vách tôn mạ kẽm fibro xi măng + gỗ, nền đất; nhà tạm 2 diện tích 23,5m2 cấu
trúc mái lợp tôn fibro xi măng, xà gồ gỗ cây, cột bằng gỗ cây, vách tôn mạ kẽm
fibro xi măng + gỗ, nền đất; 02 cống xả dài 20m, thành bê tông cốt thép dày
15cm, thành giữa bê tông cốt thép dày 15cm, đáy đổ bê tông cốt thép dày 20cm,
tấm đan bê tông cốt thép dày 8cm; 05 cái kiệt tháo tôm dài 12m, bê tông cốt
thép rộng 1m, cao 1m.
1.5. Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán
cho ông Phan Văn V, bà Trịnh Thị M giá trị các tài sản gắn liền trên thửa đất số
15, tờ bản đồ số 28 phường K, thành phố B (nay là phường L, Thành phố Hồ
Chí Minh) nêu trên với tổng số tiền là 233.442.500 (hai trăm ba mươi ba triệu,
bốn trăm bốn mươi hai ngàn, năm trăm) đồng (theo Chứng thu thẩm định giá số
12/2022/TĐG-CT ngày 21-02-2022 của Công ty cổ phần T5.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Hủy Bản cam kết ngày 30-8-2013 giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông
Phan Văn V, bà Trịnh Thị M về việc nhờ ông V, bà M đứng tên hộ diện tích
113.774,1m2 đất tại thửa đất số 15, tờ bản đồ 28 phường K, thành phố B (nay là
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) và hứa thưởng số tiền 3,5 tỷ đồng.
3. Dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi có yêu cầu cho ông Phan
Văn V, bà Trịnh Thị M để yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản tiền
1.800.000.000 (một tỷ, tám trăm triệu( đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 30-8-
2013 và Giấy hẹn ngày 29-10-2013.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn V và bà
Trịnh Thị M về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
24-01-2013 đối với diện tích 113.774,1m2 đất thuộc thửa đất số 15, tờ bản đồ 28
-- 20 of 22 --
21
phường K, thành phố B là vô hiệu và yêu cầu bà H hoàn trả bản chính Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 826630 do Ủy ban nhân dân thị xã B cấp
ngày 05-01-2006 đứng tên ông Phan Văn V.
5. Về chi phí tố tụng:
Tổng chi phí đo đạc, định giá, sao lục tài liệu chứng cứ là 10.000.000
(mười triệu) đồng, nguyên đơn bà H tự nguyện nộp toàn bộ và đã nộp xong.
Tổng chi phí thẩm định giá là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Bị đơn
ông V, bà M phải nộp toàn bộ và đã nộp xong.
Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm là 3.750.000 (ba triệu, bảy trăm năm
mươi ngàn) đồng, bị đơn ông V và bà M phải chịu và đã nộp xong.
6. Về án phí:
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T1 phải nộp 11.672.125 đồng
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền 600.000 (sáu trăm
ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0000730 ngày
23-6-2020 và số 0005147 ngày 02-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Bà Rịa (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H). Bà Nguyễn Thị Thu H và
ông Nguyễn Văn T1 còn phải nộp 11.072.125 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trong
đó bà H và ông T1 mỗi người phải nộp 5.536.062 (năm triệu, năm trăm ba mươi
sáu ngàn, không trăm sáu mươi hai) đồng.
Ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ
thẩm do là người cao tuổi.
6.2. Án phí phúc thẩm: Ông Phan Văn V và bà Trịnh Thị M được miễn án
phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
7. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26-
5-2026).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trương Văn Tâm Bùi Thị Thương
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Minh Vỹ
-- 21 of 22 --
22
Nơi nhận:
- VKSND Tp Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 12 - Tp. HCM;
- VKSND khu vực 12 - Tp. HCM;
- THADS Tp. HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa Dân sự, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Minh Vỹ
-- 22 of 22 --