Số: 94/2026/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh
nhưng không còn tình cảm với nhau. Chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung tên Nguyễn Nhật T2, sinh
ngày 19/8/2010 và Nguyễn Ngọc Mỹ T3, sinh ngày 19/5/2025. Chị yêu cầu được
nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Như T không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Tại bản tự khai ngà 11 tháng 3 năm 2026 bị đơn – anh Ngu ễn Ngọc T1
trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm
2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Quá
trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu. Từ năm 2025 anh chị phát
sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nhau. Anh đồng ý ly
hôn với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung tên Nguyễn Nhật T2, sinh
ngày 19/8/2010 và Nguyễn Ngọc Mỹ T3, sinh ngày 19/5/2025, hiện nay con chung
do chị T nuôi dưỡng. Anh đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng,
anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Ngọc T1 không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như T và bị đơn anh Nguyễn Ngọc T1 đều có
đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ
tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham
gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng
quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật của Hội
đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83
Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.