Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83,
84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án: Về hôn nhân: Cho chị Xồng Y D và anh Thò Bá R được ly hôn; về con
chung: Giao 03 con chung là cháu Thò Pà N, sinh ngày 14/01/2016; cháu Thò
Mỷ L, sinh ngày 15/01/2018; cháu Thò Dang C, sinh ngày 19/8/2021 cho chị X
-- 2 of 5 --
3
Y Dở nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con cho anh Thò Bá R do chị X Y D không yêu cầu; về tài sản
chung, nợ chung: Nguyên đơn chị Xồng Y D không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xem xét; về án phí: Nguyên đơn chị Xồng Y D phải nộp án phí ly
hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Xồng Y D yêu cầu Tòa án
giải quyết ly hôn với anh Thò Bá R có địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Bản T, xã N,
tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Nghệ An theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 5
Nghị
quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm
vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ
tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt
các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Xồng Y D vắng mặt
nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Thò Bá R thường xuyên
vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó
khăn cho công tác xác minh, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra
xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị
đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt
nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại các Điều 207, 227 và khoản 3 Điều 228
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Xồng Y D và anh Thò Bá R kết hôn với
nhau năm 2015, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Ngày 13/9/2021 có tiến hành
đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An (nay là xã N, tỉnh
Nghệ An). Quá trình vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân
do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dù có cố gắng hòa giải nhưng hai bên
vẫn không giải quyết được, không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống
và tình cảm. Chị Xồng Y D và anh Thò Bá R sống ly thân từ tháng 5/2025. Xét
thấy, cuộc hôn nhân giữ chị X Y D và anh Thò Bá R đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì
vậy cần xử cho hai người được ly hôn nhau.
-- 3 of 5 --
4
[3.2] Về con chung: Chị Xồng Y D và anh Thò Bá R 03 con chung là các
cháu Thò Pà N (sinh ngày 14/01/2016), cháu Thò Mỷ L (sinh ngày 15/01/2018),
cháu Thò Dang C (sinh ngày 19/8/2021). Nay ly hôn, chị Xồng Y D có nguyện
vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung cho đến khi con trưởng thành
(đủ 18 tuổi). Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án cháu Thò Pà N, cháu Thò Mỷ L
có đơn nguyện vọng xin ở với chị Xồng Y D, hiện nay anh Thò Bá R thường
xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, chỉ thỉnh thoảng
về địa phương để thăm gia đình nhưng không ở lại lâu dài. Vì vậy, để đảm bảo
quyền và lợi ích mọi mặt cho các con cần giao 03 con chung cho chị X Y Dở
được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Xồng Y D không yêu cầu nên
tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Thò Bá R. Trường hợp chị Xồng Y D
nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Thò Bá R có căn cứ
chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Thò Bá R lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Xồng Y D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế
quyền thăm nom con của anh Thò Bá R.
[3.3] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Xồng Y D
không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết
toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Xồng Y D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của
Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Xồng Y D.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị X Y Dở được ly hôn với anh Thò Bá R.
-- 4 of 5 --
5
2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Thò Pà N (sinh ngày
14/01/2016), cháu Thò Mỷ L (sinh ngày 15/01/2018) và cháu Thò Dang C (sinh
ngày 19/8/2021) cho chị X Y D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến
khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối
với anh Thò Bá R do chị Xồng Y D không yêu cầu.
Anh Thò Bá R có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai
được cản trở. Trường hợp chị X Y D là người trực tiếp nuôi con chung không
đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Thò Bá R có căn cứ chứng minh thì anh
Thò Bá R có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Thò Bá R lạm
dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Xồng Y D có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của anh Thò Bá R.
3. Về án phí: Chị Xồng Y D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí
dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0000266 ngày
13/01/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Nghệ An (Chị Xồng Y D
đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Xồng Y D và bị đơn anh Thò Bá
R vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND khu vực 12 – Nghệ An;
- Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An;
- UBND xã Na Ngoi, tỉnh Nghệ An;
- Lưu hồ sơ vụ án; VP. TA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Hữu Lộc
-- 5 of 5 --