Điều 58. Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn P và Lường Thị K mỗi bị cáo từ
08 (T5) năm đến 08 (T5) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
+ Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự, xử phạt: Đặng Văn V từ 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng đến 04 (Bốn) năm 03
(Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam.
+ Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp, các
bị cáo đều bị nghiện, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị,
không đảm nhiệm chức vụ hoặc hành nghề gì, do đó đề nghị không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-- 11 of 23 --
12
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
+ Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Redmi Note 12, vỏ màu đen, đã qua sử dụng tạm giữ của Đặng Văn
H, tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ sim bên trong.
+ Trả lại cho Đặng Văn V 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG,
màu xanh, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại có vết sọc, số IMEI1:
351662615262229/01 có gắn 02 sim số 0931663492 và số 0915937558 nhưng
tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: Mẫu tinh thể dạng
đá và 01 viên nén = 0, 5197g, mẫu cục bột = 0,1254g (hoàn lại theo Kết luận
giám định số 2839 ngày 24/10/2025); mẫu viên nén = 0,5326g, mẫu tinh thể
dạng đá và mảnh viên nén = 1,6685g, mẫu cục bột = 0.8176g (hoàn lại theo Kết
luận giám định số 2840 ngày 24/10/2025) cùng bao gói được niêm phong theo
đúng quy định của pháp luật.
+ Truy thu của Đặng Văn H số tiền 2.800.000đ để sung Ngân sách Nhà
nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Lường Thị K trình
bày bản luận cứ: Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa,
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo K được hưởng mức án phù hợp với
hành vi phạm tội của bị cáo, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm cho bị cáo
được hưởng mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo là người
dân tộc thiểu số, ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế.
Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị
cáo K theo quy định của pháp luật.
- Phần tranh luận: Các bị cáo Đặng Văn H, Đặng Văn V, Nguyễn Văn P và
Lường Thị K; người bào chữa cho bị cáo K đều nhất trí với luận tội của đại diện
Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến bổ sung gì khác.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo:
+ Bị cáo Đặng Văn H nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là
sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được
hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm được tự do để tự cải tạo thành người
có ích cho gia đình và xã hội.
+ Bị cáo Đặng Văn V nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là
sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được
-- 12 of 23 --
13
hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm được tự do để tự cải tạo thành người
có ích cho gia đình và xã hội.
+ Bị cáo Nguyễn Văn P nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là
sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được
hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm được tự do để tự cải tạo thành người
có ích cho gia đình và xã hội.
+ Bị cáo Lường Thị K nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là
sai, là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được
hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm được tự do để tự cải tạo thành người
có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an
tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát khu vực 9 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại
cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ, đủ cơ sở khẳng định: Hồi 11 giờ 30 phút, ngày 15/10/2025, Tổ công tác
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh P làm nhiệm vụ tại
khu vực Tổ dân phố M, phường V, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang Đặng
Văn V đang có hành vi tàng trữ 0,5831g ma túy, loại Methamphetamine và
0,1967g ma túy, loại Heroine. V khai nhận mục đích tàng trữ số ma túy trên để
sử dụng cho bản thân. Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày
02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng và thể tích chất
ma tuý xác định: Các chất ma tuý Methamphetamine và H4 được quy định trong
một điểm của Điều 249 Bộ luật hình sự, tổng khối lượng các chất ma túy Vàng
tàng trữ là 0,7798g, nhỏ hơn khối lượng tối đa theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ
luật hình sự (05g). Do đó, hành vi của Đặng Văn V đã phạm vào tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình
sự.
-- 13 of 23 --
14
Quá trình điều tra xác định, nguồn gốc số ma túy trên do V mua của Đặng
Văn H vào ngày 14/10/2025 và ngày 15/10/2025 với tổng số tiền là
2.200.000đồng. Ngoài ra, H còn 02 lần bán trái phép ma túy cho Nguyễn Ngọc
Q vào ngày 12/10/2025 và ngày 14/10/2025 với tổng số tiền là 600.000đồng.
Đến 12 giờ 30 phút ngày 15/10/2025, khi H đang tàng trữ trái phép 2,7166g ma
túy loại Methamphetamine và 1,4290g ma túy loại Heroine, mục đích để bán
kiếm lời thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công
an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang. Căn cứ Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP
ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng và thể
tích chất ma tuý xác định: Các chất ma tuý Methamphetamine và H4 được quy
định trong một điểm của Điều 251 Bộ luật hình sự, tổng khối lượng các chất ma
túy đã thu giữ xác định do H bán là 4,9254g, nhỏ hơn khối lượng tối thiểu theo
điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (05g). Tuy nhiên, do H bán ma túy
nhiều lần nên hành vi của H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, đêm ngày 14/10/2025 đến rạng sáng 15/10/2025, tại nhà nghỉ
T6, số E đường M, phường V, tỉnh Phú Thọ, Đặng Văn H, Lường Thị K,
Nguyễn Văn P có hành vi tổ chức cho nhóm của H, K, P và Lường Thị T3,
Triệu Thị M sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, Lường Thị K có vai trò là
người khởi xướng và bàn bạc với Đặng Văn H về việc chuẩn bị ma túy, địa điểm
để cùng nhau sử dụng, đi cùng H lấy ma túy mang đến nhà nghỉ, chuẩn bị dụng
cụ sử dụng ma túy, gắn ống hút, coóng thủy tinh vào chai nước, cho ma túy vào
coóng và gọi Lường Thị T3, Triệu Thị M sang phòng 301 để sử dụng ma túy.
Đặng Văn H có vai trò là người cùng bàn bạc với Lường Thị K về việc sử dụng
ma túy, thuê địa điểm sử dụng ma túy tại nhà nghỉ T6, cung cấp ma túy cho các
đối tượng sử dụng. Nguyễn Văn P có vai trò đưa Lường Thị T3, Triệu Thị M
đến nhà nghỉ T6 để sử dụng ma túy, trực tiếp đục 02 lỗ trên nắp chai nhựa làm
dụng cụ sử dụng ma túy, nhặt ma túy do K làm rơi cho vào coóng thủy tinh, bật
lửa hơ nóng cóng thủy tinh để các đối tượng sử dụng, đưa ống hút cho H, K, T3
sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định Đặng Văn H là đối tượng đang điều
trị nghiện các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Do đó, hành vi
của Đặng Văn H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255, hành vi của Lường Thị K và Nguyễn Văn
P đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại
điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị
cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong
-- 14 of 23 --
15
hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát
công bố tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
- Bị cáo Đặng Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình
sự.
Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
…
b) Phạm tội 02 lần trở lên;…”
Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 15 năm:
…
b) Đối với 02 người trở lên;...”
- Bị cáo Đặng Văn V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các
chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một
trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này...”
- Bị cáo Nguyễn Văn P và Lường Thị K đã phạm vào tội “Tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ
luật hình sự.
Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 15 năm:
…
b) Đối với 02 người trở lên;
…
đ) Đối với người đang cai nghiện,…”
-- 15 of 23 --
16
Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Phú Thọ, truy tố các bị cáo
Đặng Văn H, Đặng Văn V, Nguyễn Văn P và Lường Thị K theo cáo trạng số:
145/CT – VKSKV9 ngày 09 tháng 4 năm 2026 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị
cáo Đặng Văn H, Lường Thị K, Nguyễn Văn P và Đặng Văn V là nguy hiểm
cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước
đối với chất ma túy, chất gây nghiện, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì
vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng
ngừa chung.
[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của các bị cáo thấy rằng:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đặng Văn H, Lường Thị K, Nguyễn Văn P
và Đặng Văn V không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tính chất, vai trò và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị
cáo:
+ Đặng Văn V có hành vi tàng trữ 0,5831g ma túy, loại Methamphetamine
và 0,1967g ma túy, loại Heroine vào ngày 15/10/2025 mục đích tàng trữ số ma
túy trên để sử dụng cho bản thân. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân
thân xấu, đã từng 02 lần bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” các năm 2007 và năm 2014, đều đã được xóa
án tích.
+ Bị cáo Đặng Văn H có hành vi bán bán trái phép chất ma túy cho bị cáo V
và Nguyễn Ngọc Q vào ngày 14/10/2025 và ngày 15/10/2025. Ngoài ra, đêm
ngày 14/10/2025 đến rạng sáng ngày 15/10/2025 bị cáo H có hành vi tổ chức
cho nhóm của H, K, P và Lường Thị T3, Triệu Thị M sử dụng trái phép chất ma
túy. H có vai trò là người cùng bàn bạc với Lường Thị K về việc sử dụng ma
túy, thuê địa điểm sử dụng ma túy tại nhà nghỉ T6, cung cấp ma túy cho các đối
tượng sử dụng. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 02 lần bị
xét xử về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2009 và tội “Mua
bán trái phép chất ma túy” vào năm 2016, đều đã được xóa án tích.
+ Bị cáo Lường Thị K có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đêm ngày 14/10/2025 đến rạng sáng 15/10/2025, tại nhà nghỉ T6, số E đường
M, phường V, tỉnh Phú Thọ, Đặng Văn H, Lường Thị K, Nguyễn Văn P có hành
vi tổ chức cho nhóm của H, K, P và Lường Thị T3, Triệu Thị M sử dụng trái
phép chất ma túy. Trong đó, Lường Thị K có vai trò là người khởi xướng và bàn
bạc với Đặng Văn H về việc chuẩn bị ma túy, địa điểm để cùng nhau sử dụng, đi
cùng H lấy ma túy mang đến nhà nghỉ, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, gắn
-- 16 of 23 --
17
ống hút, coóng thủy tinh vào chai nước, cho ma túy vào coóng và gọi Lường Thị
T3, Triệu Thị M sang phòng 301 để sử dụng ma túy.
+ Bị cáo Nguyễn Văn P vào đêm ngày 14/10/2025 đến rạng sáng
15/10/2025, tại nhà nghỉ T6, số E đường M, phường V, tỉnh Phú Thọ, Đặng Văn
H, Lường Thị K, Nguyễn Văn P có hành vi tổ chức cho nhóm của H, K, P và
Lường Thị T3, Triệu Thị M sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, P có vai
trò đưa T3 và M đến nhà nghỉ T6 để sử dụng ma túy, trực tiếp đục 02 lỗ trên nắp
chai nhựa làm dụng cụ sử dụng ma túy, nhặt ma túy do K làm rơi cho vào
coóng thủy tinh, bật lửa hơ nóng cóng thủy tinh để các đối tượng sử dụng, đưa
ống hút cho H, K, T3 sử dụng ma túy. Trước khi phạm tội bị cáo là người có
nhân thân xấu, có 02 tiền sự về hành vi “Tàng trữ hàng cấm” năm 2024 và hành
vi “chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ”. Ngoài ra, bị cáo đã
từng 02 lần bị xét xử về các tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
năm 2017 và tọi “Mua bán trái phép chất ma túy” năm 2020; Bị cáo còn nhiều
lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy để
sử dụng” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo Đặng Văn V, Đặng Văn H, Lường Thị K và Nguyễn Văn P trước
khi phạm tội đều có nhân thân xấu, các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn
luyện bản thân trở thành người công dân có ích cho xã hội mà còn tiếp tục phạm
tội. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Nên hành vi phạm tội
của các bị cáo lần này cần phải bị nghiêm trị. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng
như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải
nên các bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ
xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt và buộc các bị cáo phải cách ly
khỏi cuộc sống cộng đồng để chấp hành hình phạt tù tại trại giam với mức án
như đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục
chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản
5 Điều 251 của Bộ luật hình sự thì, “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm
rõ các bị cáo V, H, K và P đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp,
khoong có thu nhập ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp
dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[7]. Về xử lý vật chứng.
-- 17 of 23 --
18
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12, vỏ màu đen, đã
qua sử dụng, bên trong điện thoại có lắp 01 thẻ sim có số thuê bao 0365.349.378
tạm giữ của Đặng Văn H. Quá trình điều tra xác định là phương tiện H sử dụng
liên lạc để bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Q. Do đó, cần tịch thu bán phát mại
sung Ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động. Đối với 01 thẻ sim, do
không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, đã qua sử
dụng, màn hình điện thoại có vết sọc, số IMEI1: 351662615262229/01 có gắn
02 sim số 0931663492 và số 0915937558 tạm giữ của Đặng Văn V. Quá trình
điều tra xác định là tài sản hợp pháp của V, không liên quan đến hành vi phạm
tội. Do đó, cần trả lại cho Đặng Văn V nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi
hành án.
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: Mẫu tinh thể dạng đá và 01
viên nén = 0, 5197g, mẫu cục bột = 0,1254g (hoàn lại theo Kết luận giám định
số 2839 ngày 24/10/2025); mẫu viên nén = 0,5326g, mẫu tinh thể dạng đá và
mảnh viên nén = 1,6685g, mẫu cục bột = 0.8176g (hoàn lại theo Kết luận giám
định số 2840 ngày 24/10/2025) cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy
định của pháp luật cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.800.000đ Đặng Văn H có được từ việc bán trái phép ma
túy cho Đặng Văn V và Nguyễn Ngọc Q, quá trình điều tra xác định H đã tiêu
xài hết số tiền trên. Do đó, cần truy thu của Hợp số tiền 2.800.000đ để sung
Ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 1.500.000đ Đặng Văn H sử dụng để mua ma túy (sau đó
bán cho Nguyễn Ngọc Q, Đặng Văn V và cùng sử dụng với nhóm Lường Thị
K), quá trình điều tra xác định do H lao động tích cóp mà có. Cơ quan điều tra
không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
Đối với dụng cụ (giấy bạc, bật lửa) mà Đặng Văn V dùng để sử dụng ma
túy. Quá trình điều tra V khai nhận, sau khi sử dụng ma túy Vàng đã đốt hết giấy
bạc, túi nilon gói ma túy và vứt bỏ bật lửa (Vàng không nhớ vứt ở đâu). Cơ quan
điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
Đối với coóng thủy tinh, ống hút, chai nhựa, bật lửa là dụng cụ Đặng Văn
H, Lường Thị K, Nguyễn Văn P, Lường Thị T3 và Triệu Thị M sử dụng trái
phép ma túy ngày 14-15/10/2025 tại nhà nghỉ T6, quá trình điều tra, Cơ quan
điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 xe máy do Đặng Văn H sử dụng đi lấy ma túy và chở Lường
Thị K đến nhà nghỉ T6 ngày 14/10/2025, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra
không thu giữ được do sau khi Đặng Văn H bị bắt ngày 15/10/2025, gia đình
-- 18 of 23 --
19
không quản lý tài sản nên chiếc xe máy này đã bị thất lạc, không xác định được
đang ở đâu nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 xe máy do Nguyễn Văn P sử dụng chở Lường Thị T3, Triệu Thị
M đến nhà nghỉ T6 ngày 14/10/2025, quá trình điều tra P khai đã bán cho 01
người không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra nên không thu giữ
được nên không đề cập xử lý.
[8]. Về xử lý hành vi và người liên quan:
Đối với Nguyễn Ngọc Q là đối tượng 02 lần mua trái phép ma túy của
Đặng Văn H để sử dụng trái phép, kết quả trưng cầu giám định: Tìm thấy
Methamphetamine trong nước tiểu thu của Q. Quá trình điều tra xác định Q là
đối tượng điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (M)
tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh V (nay là tỉnh Phú Thọ) từ ngày
25/10/2023. Ngày 24/10/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P ra
Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc Q về tội “Sử
dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Ngày 12/01/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P ra Quyết định tách
vụ án hình sự đối với Nguyễn Ngọc Q và các vật chứng liên quan để giải quyết
theo quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn V, quá trình
điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường K, tỉnh
Lạng Sơn xác định Đặng Văn V không thuộc một trong các trường hợp quy định
tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của Đặng Văn V không cấu thành
tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Tuy
nhiên, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Đặng Văn V vi phạm quy định
tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính
Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn
xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ;
phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 09/03/2026, Phòng Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy - Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
đối với Đặng Văn V về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại
khoản 1, Điều 23, Mục 2, Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của
Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Lường Thị T3 và Triệu Thị M là những người có mặt và sử dụng
trái phép chất ma tuý tại nhà nghỉ T6 theo sự rủ rê, tổ chức của các bị can. Quá
trình điều tra xác định T3 và M không có hành vi giúp sức cho các đối tượng tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời không thuộc một trong các trường
hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề
-- 19 of 23 --
20
cập xử lý hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, các đối tượng trên đều có hành vi sử
dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định
số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn
xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Ngày 11/3/2026, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh P
đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lường Thị T3 và Triệu Thị
M về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị L3 là chủ nhà nghỉ T6, quá trình điều tra xác định
bà L3 không biết và không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy của các bị can. Tuy nhiên, bà L3 đã có hành vi thiếu trách nhiệm để xảy
ra hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự, hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở kinh
doanh trực tiếp quản lý. Do đó, ngày 11/3/2026, Phòng Cảnh sát điều tra tội
phạm về ma túy - Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với bà Nguyễn Thị L3 về hành vi thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi xâm hại
đến an ninh, trật tự, vi phạm pháp luật tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý quy
định tại điểm b khoản 4 Điều 12, Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày
31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội là đúng quy định của
pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn H trong thời
gian đang điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone,
do hành vi này nằm trong toàn bộ diễn biến hành vi tổ chức – sử dụng đã được
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P xem xét, đánh giá khi xử lý về tội
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, do đó không xem xét, xử lý là có căn
cứ.
Đối với đối tượng bán ma túy trái phép cho Đặng Văn H theo lời khai của
H có tên là T4 ở khu vực bến xe K cũ (H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của
người này). quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công an phường
V về người nam giới có đặc điểm nêu trên nhưng chưa xác định được người này
là ai. Ngoài lời khai của Hợp, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định
chính xác nhân thân, lai lịch của người bán ma túy trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra
tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
[9]. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Đặng Văn H, Nguyễn Văn P, Đặng Văn
V phải án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lường Thị K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo là
người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
-- 20 of 23 --
21
Tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp
luật. Xét thấy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo K thuộc
trường hợp được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Đặng Văn V phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn P và Lường Thị K phạm
tội “Tổ chức trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự, xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán
trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều
51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H
08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo
Đặng Văn H phải chấp hành chung cho hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn
tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/10/2025.
- Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;