Số: 083188005012
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên tòa số 79/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các
Điều 70. , 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị: + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Huyền T. Bà Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn với ông Bùi Quang M. 3 + Về con chung: giao con chung Bùi Quốc M1 sinh ngày 01/10/2012 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông M không có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên không xém xét. + Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Bùi Quang M có địa chỉ tại ấp P, xã P, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Huyền T và ông Bùi Quang M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 14/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Do đó, hôn nhân của bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông M không có chính kiến, ghen tuông vô cớ, ông M đuổi bà đi và vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay, hiện hai bên đã không còn tình cảm và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn. Xét thấy bà T và ông M mâu thuẫn và ly thân đã lâu nhưng cả hai không thể hàn gắn được. Ông M biết việc bà T yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa án chứng tỏ ông M không có thiện chí hàn gắn với bà T, có ý bỏ mặc hôn nhân. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của bà T và ông M đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1
(nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm
2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông M không có chính kiến, mọi việc đều nghe
theo lời mẹ và ghen tuông vô cớ, bản thân bà và mẹ chồng cũng không hòa hợp
dẫn đến mâu thuẫn ngày càng tăng. Khoảng tháng 8 năm 2018, ông M đuổi bà đi
và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy đôi bên đã không còn tình
cảm và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông M.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông M có 01 con chung tên Bùi
Quốc M1 sinh ngày 01/10/2012 hiện đang sống chung với ông M. Khi ly hôn, bà
đồng ý giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trì nh tố tụng vụ án, bị đơn ông Bùi Quang M không có văn bản
thể hiện ý kiến của mì nh về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T và
không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng : Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án
xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quan hệ tranh
chấp. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh
Long theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau
khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật: xác
định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh tình trạng
mâu thuẫn giữa vợ chồng, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa
các đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo qui định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân
theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và việc
xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng
mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các
Điều 56. Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông M có 01 con chung tên Bùi Quốc M1 sinh ngày 01/10/2012. Xét thấy, hiện con chung Bùi Quốc M1 đang sống chung với ông M, việc giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học tập cũng như tâm lý của con. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 24/02/2026, cháu M1 có nguyện vọng được sống chung với ông M. Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T về việc giao con chung là Bùi Quốc M1 cho ông M trực tiếp 4 nuôi dưỡng. Ông M không có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T cho rằng vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung. Ông M không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. [5] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. [6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ các 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Huyền T. Bà Nguyễn Thị
Huyền T được ly hôn với Ông Bùi Quang M.
2. Về con chung: Ông Bùi Quang M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con
chung là Bùi Quốc M1 sinh ngày 01/10/2012. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Huyền T phải nộp án phí hôn nhân gia đình là
300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0012041 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã Châu Hòa; - Lưu hồ sơ. T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Giả Huệ Tiên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.