CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - An Giang
hợp tính tình, bất đồng quan điểm, cuộc sống thường cự cãi nhau và chị không còn
tình cảm với anh T. Quá trình chung sống chị và anh T có 01 người con chung là
cháu Võ Ngọc Khả H, sinh ngày 29/11/2022 do chị chăm sóc, nuôi dưỡng.
Theo đơn khởi kiện, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh T. Về con chung: Yêu cầu
nuôi cháu H, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Anh Võ Thành T là bị đơn trình bày:
Anh và chị L tự nguyện kết hôn năm 2021 có đăng ký kết hôn, thời gian đầu
chung sống hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm trong
cuộc sống. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, anh có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị L. Về con chung: Anh đồng
ý để chị L nuôi cháu H, mặc dù chị L không yêu cầu cấp dưỡng nhưng anh vẫn tự
nguyện hỗ trợ chị L trong việc nuôi con tùy theo khả năng thu nhập và đề nghị chị L
phải đảm bảo quyền thăm con cho anh.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ:
Trưởng ấp K, xã G, tỉnh An Giang cung cấp: Ban lãnh đạo ấp không biết được
nguyên nhân phát sinh tranh chấp giữa chị L và anh T; anh T có nơi đăng ký thường
trú và nơi cư trú tại ấp K, xã G, tỉnh An Giang.
* Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải
quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng;
tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Tuy nhiên, vi phạm về thời hạn xét
xử theo Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị khắc phục.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương
sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Chị L và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết
hôn ngày 14/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là xã
3
G, tỉnh An Giang) nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, kể từ thời điểm
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.