CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc77/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
2
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn
Minh Hồng H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long giải quyết ly hôn,
nuôi con chung với anh Lê Văn Q cư trú ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Minh Hồng H có
đơn xin vắng mặt ngày 18/3/2026, bị đơn anh Lê Văn Q được triệu tập hợp lệ để
tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không lý do.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Chị Nguyễn Minh Hồng H và anh Lê Văn Q thành hôn có đăng ký kết
hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tân An Hội, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
(Nay là xã Tân Long Hội, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33 vào
ngày 30/6/2023 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Quân là hợp pháp.
[4] Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị H và anh Quân thời
gian đầu sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và
vợ chồng ly thân từ năm 2023 đến nay không hàn gắn được. Sau khi Tòa án thụ
lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ để Toà án hoà giải giúp đỡ đoàn tụ nhưng anh Quân
vắng mặt không lý do, chị H có đơn yêu cầu không tiến hành hoà giải do vợ chồng
không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục. Như vậy cho thấy tình
cảm giữa chị H và anh Quân không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên
xét yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và
gia đình.
[5] Về con chung: Chị Nguyễn Minh Hồng H xác định không có, không yêu
cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Minh Hồng H không yêu cầu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.