Điều 157. , 165 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông L, bà N phải chịu số tiền 3.694.000
đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Chí H chịu số tiền 35.600.000 đồng (đối với thực hiện nghĩa
vụ trả 50 chỉ vàng 24k x 15.800.000 đồng/chỉ= 790.000.000 đồng)
Miễn án phí số tiền 900.000 đồng cho ông Trương Văn L, bà Thái Thị N do
thuộc diện người cao tuổi có đơn xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-- 8 of 16 --
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tòa án đã gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tống đạt hợp
lệ lần 2 bà Nguyễn Chí H và ông Bùi Nguyễn Đức T đến Tòa án tham gia phiên tòa
xét xử, bà H ông T không đến. Tòa án có đi xác minh cán bộ địa phương cho rằng bà
H, ông T còn đăng ký hộ khẩu tại số A, đường B, phường L, tỉnh Vĩnh Long, nhưng
đã đi nước ngoài, các đương sự cả trưởng khóm cũng không biết địa chỉ nơi bà H, ông
T đi nước ngoài. Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày
05/5/2017 quy định “Trường hợp đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và
đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của người bị kiện theo địa chỉ được
ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là” Đã ghi đầy đủ và đúng
địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi
cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao
dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc
hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục
giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không
tống đạt được cho bị đơn. Xét bà Nguyễn Chí H và ông Bùi Nguyễn Đức T còn đăng
ký thường trú số 103A, đường B, phường L, tỉnh Vĩnh Long ở từ đó cho đến nay, bà
H, ông T bỏ đi không thay đổi địa chỉ. Tòa án tiến hành niêm yết công khai theo quy
định pháp luật. Ngoài ra ông Phạm Văn Ý vắng mặt, Bà Trương Thị Minh P1 có đơn
xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 Hội đồng xét xử thống nhất giải quyết vắng mặt đối với bà Nguyễn Chí
H và ông Bùi Nguyễn Đức T, ông Phạm Văn Ý, bà Trương Thị Minh P1.
Theo nguyên đơn khai Ông Bùi Minh T1 có vợ là bà Nguyễn Chí H và con là
Bùi Nguyễn Đức T, ngoài ra không còn ai khác. Như vậy Hội đồng xét xử ông Bùi
Minh T1 chỉ còn bà Nguyễn Chí H và ông Bùi Nguyễn Đức T.
[1.2] Nguyên đơn yêu cầu chấm dứt 03 hợp đồng cầm cố đất giữa ông Bùi Minh
T1, bà Nguyễn Chí H với ông Trương Văn L, Trần Văn S1 và Phạm Văn Ý ngày
19/9/1998, Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Nguyễn Chí H người đại diện
cho bà H là Trương Thị Minh P1 với ông Lâm Ngô P ngày 19/12/2024 được công
chứng Tạ Thị T2 thuộc thửa đất số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, loại đất
chuyên trồng lúa nước, đất toạ lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P, tỉnh
Vĩnh Long). Yêu cầu bà Nguyễn Chí H và ông Bùi Nguyễn Đức T hoàn trả 50 chỉ
vàng 24k cho vợ chồng ông L và bà N đồng thời ông L bà N đồng ý trả thửa đất số 46,
tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất toạ lạc tại xã
L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cho bà Nguyễn Chí H.
Ông Lâm Ngô P yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất được ký kết ngày 19/12/2024 giữa bà Nguyễn Chí H người đại diện cho bà H là
Trương Thị Minh P1 với ông Lâm Ngô P, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng
C thuộc thửa đất số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, loại đất chuyên trồng lúa
-- 9 of 16 --
10
nước, đất toạ lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long).
Buộc ông Trương Văn L bà Thái Thị N phải trả lại cho ông P quản lý sử dụng phần
đất ông đã mua hợp pháp của bà H tại thửa 46, diện tích theo trích đo là 4.635,7m2 loại
đất chuyên trồng lúa nước, đất toạ lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P,
tỉnh Vĩnh Long), Ông P yêu cầu ông L bồi thường thiệt hại cho ông P 7.120.000đ.
Đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ tài sản của người
chết để lại được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều
166, 309, 500, 589, 615 Bộ luật dân sự năm và bà Nguyễn Chí H và ông Bùi Nguyễn
Đức T thường trú tại A, đường B, phường L, tỉnh Vĩnh Long, được quy định tại Điều
35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Về nguồn gốc đất: Phần đất thửa đất số 46, diện tích 4.645,8m2 (thửa cũ 536,
diện tích 4.620 m2, loại đất lúa) có nguồn gốc là của hộ Bùi Minh T1 đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/4/2002. Ông Bùi Minh T1 chết ngày
28/3/2012. Cùng năm 2012 bà H kê khai thừa kế được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 16/7/2012 mang tên Nguyễn Chí H. Năm 2024 bà H cấp đổi theo
chương trình Vlap thành thửa 46. Như vậy phần đất thửa 46 là của bà H.
[2.2] Căn cứ vào các hợp đồng cầm cố đất như sau: Hợp đồng cầm cố đất được
ký kết giữa bà Nguyễn Chí H ông Bùi Minh T1 với ông Trương Văn L ký kết ngày
19/9/1998 và Tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết ngày 19/9/1998 giữa ông Bùi
Minh T1, Nguyễn Chí H và Phạm Văn Ý, Tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết
ngày 19/9/1998 giữa ông Bùi Minh T1, Nguyễn Chí H và Trần Văn S1. Các tờ cầm cố
trên do nguyên đơn cung cấp. Sau khi ký hợp đồng ông L, ông S1, ông Ý nhận đất để
canh tác. Đến hạn trả đất ông S1, ông Ý yêu cầu bà H ông T1 chuộc lại, bà H không
chuộc và nói ông S1, ông Ý giao đất cho ông L, ông L giao lại 19 chỉ vàng 24k cho
ông S1 và giao 20 chỉ vàng 24k cho ông Ý, các bên đồng ý nên ông S1 giao 19 chỉ
vàng 24k cho ông L và ông Ý giao 20 chỉ vàng 24k cho ông L. Hiện nay ông L đã
nhận 50 chỉ vàng do bà H đã cầm cố cho ông và ông S1, ông Ý. Tại phiên tòa hôm nay
ông S1 không yêu cầu bà H, ông Đức T trả cho ông S1 19 chỉ vàng 24k, Ông Ý vắng
mặt phiên tòa nhưng ông Ý có lời khai ông L đã đưa cho ông 20 chỉ vàng, nên ông Ý
không yêu cầu bà H trả. Vì vậy xác định ông L hiện nay có nhận 39 chỉ vàng do ông
S1 và ông Ý giao, tổng cộng bà H còn nợ của ông L 50 chỉ vàng 24k.
[2.3] Tại phiên tòa người đại diện nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng
cầm cố đất ruộng tại tờ hợp đồng cố đất ruộng ngày 19/9/1998 giữa ông Bùi Minh T1,
Nguyễn Chí H và ông Trương Văn L, tờ hợp đồng cố đất ruộng ngày 19/9/1998 giữa
ông Bùi Minh T1, Nguyễn Chí H và ông Trần Văn S1, tờ hợp đồng cố đất ruộng ngày
19/9/1998 giữa ông Bùi Minh T1, Nguyễn Chí H và ông Phạm Văn Ý, để bà H, ông
tâm trả 50 chỉ vàng 24k. Xét 03 tờ cầm cố đất về hình thức là chưa đúng quy định của
pháp luật và nội dung không thể hiện rõ ràng cầm cố thửa đất nào, nên chấm dứt 03 tờ
hợp đồng này.
-- 10 of 16 --
11
[2.4] Xét nguyên đơn yêu cầu bà H và ông Đức T trả cho nguyên đơn số vàng
50 chỉ vàng 24k là có cơ sở chấp nhận một phần, thể hiện 03 tờ hợp đồng cầm cố bản
gốc và bà H biết được còn nợ 50 chỉ vàng 24k. Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Chí
H và ông Bùi Nguyễn Đức T vắng mặt. Tòa án đã xác minh biết được bà H và ông
Đức T còn đăng ký hộ khẩu tại địa phương. Bà H biết còn nợ vàng của ông L, ông S1,
ông Ý tổng cộng 50 chỉ vàng mà không trả, bỏ đi không thông báo cho người nhận
cầm cố biết là không đúng thỏa thuận ban đầu.
[2.5] Tại văn bản khai nhận di sản thừa kế và tặng cho quyền hưởng di sản thừa
kế ngày 20/4/2012 bà Nguyễn Chí H cùng với ông Bùi Nguyễn Đức T đồng tự nguyện
lập văn bản này để khai nhận quyền hưởng phần di sản của ông Bùi Minh T1 đã chết
để lại gồm: Thửa 520, 535, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.440m2 và thửa 536, 541, tờ bản
đồ số 5, diện tích 9.800m2. Nay chúng tôi lập văn bản này khai nhận 02 mảnh đất nêu
trên, tọa lạc ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long thuộc quyền thừa kế hợp pháp của
Nguyễn Chí H, Bùi Nguyễn Đức T. Đồng thời văn bản này Bùi Nguyễn Đức T từ chối
quyền hưởng di sản thừa kế có trong 02 mảnh đất nêu trên do cha ruột ông Bùi Minh
T1 đã chết để lại và cho đứt mẹ ruột là bà Nguyễn Chí H trọn thụ hưởng quyền thừa
kế. Kể từ ngày tôi Bùi Nguyễn Đức T ký tên vào văn bản này thì quyền thừa kế của tôi
có trong 02 mảnh đất nêu trên đương nhiên bị chấm dứt và quyền thừa kế duy nhất
thuộc về cá nhân bà Nguyễn Chí H. Như vậy vào năm 1999 ông Bùi Minh T1 cùng bà
Nguyễn Chí H thực hiện cầm cố đất cho ông L, ông Ý, ông S1. Đến năm 2012 ông Bùi
Minh T1 chết, nay nguyên đơn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ người chết để lại, nhưng tài
sản này ông Bùi Nguyễn Đức T đã từ chối không còn hưởng thừa kế của ông T để lại,
nên bà H có nghĩa vụ phải trả lại 50 chỉ vàng 24k cho ông L là phù hợp.
[2.6] Đại diện nguyên đơn cho rằng yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất mới đảm bảo thi hành án cho ông L bà N lấy vàng số vàng của bà
H. Việc các bên thực hiện cầm cố đất là không đúng, nhưng bà H có nhận vàng 50 chỉ
vàng là có thật không liên quan đến bà H chuyển nhượng đất cho ông P. Xét hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/12/2024 được ký kết giữa bà Nguyễn Chí
H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và ông Lâm Ngô P được công chứng tại Văn
phòng C phần đất thửa đất số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, loại đất chuyên
trồng lúa nước, đất toạ lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P, tỉnh Vĩnh
Long) đã tuân thủ quy định về mặt hình thức của giao dịch dân sự được quy định tại
khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 và khoản 3 điểm a Điều 167 “Hợp đồng chuyển
nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh
doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này”. Về nội dung hợp đồng có nêu rõ
thửa đất, vị trí đất, diện tích đất, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng, giá chuyển
nhượng, quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng phù hợp với quy định
[2.7] Ông P nhận chuyển nhượng đất ông P thực hiện kê khai, đăng ký nên ngày
31/12/2024 ông P được cấp GCN QSDĐ, quá trình sử dụng đất ông P thuê xe cuốc
đắp bờ bao, đặt ống nước để cải tạo đất sự việc này chứng tỏ ý chí của ông P mua đất
-- 11 of 16 --
12
của bà H là ngay tình vì ông có nhu cầu sử dụng trên thực tế. Về phía ông L và bà N
cho rằng phần đất thửa 46 đã cố cho ông bà tại 03 hợp đồng cố đất viết tay ngày
19/9/1998, thời hạn 04 năm, mặc dù nội dung trong 03 hợp đồng các bên có thỏa thuận
“nếu hết thời hạn mà bên cố đất chưa trả tiền thì bên nhận cố đất tiếp tục canh tác đến
khi có tiền chuộc lại đất” nhưng thực tế ông L, bà N không tiếp tục duy trì hợp đồng vì
phần đất thửa 46 hiện tại đất trống không có cây trồng hay tài sản gì của ông L, bà N;
Ngoài ra tại công văn số: 543/VPĐK-ĐKCGCN ngày 10/10/2025 củ Văn phòng đăng
ký đất đai tỉnh V có phúc đáp cho Tòa án, việc Văn phòng đăng ký đất đai ký cấp giấy
chứng nhận cho ông Lâm Ngô P tại thửa 513, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.632,8m2,
mục đích chuyên trồng lúa nước và thửa 46, tờ bản đồ số 12 (nay là số D) diện tích
4.645,8m2 đất trồng lúa nước là thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo Điều 37 Nghị
định số: 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ. Vì vậy, ông L và bà N yêu
cầu vô hiệu HĐCN QSDĐ phần đất thửa số 46 là chưa có cơ sở chấp nhận.
[2.8] Xét ông L yêu cầu công nhận phần đất thửa 46 cho bà H và anh Đức T là
không có căn cứ chấp nhận. Bởi vì phần đất trước khi chuyển nhượng cho ông P phần
đất thửa 46 cho bà H đứng tên, nếu có yêu cầu bà H ông T là người yêu cầu, nhưng
ông L là nguyên đơn yêu cầu thay cho bà H ông T là không đúng tư cách yêu cầu phản
tố. Ông P yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
19/12/2024 được ký kết giữa bà Nguyễn Chí H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và
ông Lâm Ngô P và yêu cầu ông L bà N trả cho ông phần đất thửa 46 là có căn cứ chấp
nhận.
[2.9] Tại phiên tòa ông Lâm Ngô Phúc R lại không yêu cầu ông L bà N bồi
thường thiệt hại do không làm 01 mùa lúa với số tiền 7.120.000đ cho ông P, nên đình
chỉ yêu cầu này của ông P.
[2.10] Thể hiện kết quả đo đạc hiện trạng của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V
phần đất tranh chấp có số liệu thửa 46, tờ bản đồ số 42 diện tích 4.693,8m2, trong đó
diện tích 4.635,7m2 thuộc thửa 46 và 58,1m2 theo bản đồ địa chính chính quy ghi nhận
thửa 3001 là đường nhựa. ông P đồng ý số liệu diện tích 4.635,7m2, còn diện tích
58,1m2 thửa 3001 là đường nhựa ông P không yêu cầu.
[2.11] Trên thửa 46 không có tài sản vật kiến trúc, hiện trạng là đất trống.
[2.12] Qua ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lâm
Ngô P cho rằng ông P chuyển nhượng phần đất thửa 46 của bà H là hợp pháp ngay
tình, làm đủ thủ tục theo quy định pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
yêu cầu độc lập của ông Lâm Ngô P, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 19/12/2024 được ký kết giữa bà Nguyễn Chí H đại diện là bà Trương
Thị Minh P1 và ông Lâm Ngô P tại Văn phòng C phần đất thửa đất số 46, tờ bản đồ số
12, diện tích 4.645,8m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất toạ lạc tại xã L, huyện L,
tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) là hợp pháp. Buộc ông L bà N giao phần
đất thửa 46 cho ông P được tiếp tục sử dụng. Xét lời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
ông Lâm Ngô P là có cơ sở như đã nhận định trên.
[2.13] Tại phiên tòa hôm nay giá vàng Ngọc Thẩm là 16.100.000đ/chỉ, nhưng
-- 12 of 16 --
13
nguyên đơn cung cấp giá vàng là 15.800.000đ/01 chỉ, nên Hội đồng áp dụng giá vàng
15.800.000đ/ chỉ là có lợi cho bị đơn.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ cở chấp nhận.
Vì những nhận định trên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Chấm dứt tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998 giữa
ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H và ông Trương Văn L. Tờ hợp đồng cầm cố đất
ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998 giữa ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H và
ông Trần Văn S1. Tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998
giữa ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H và ông Phạm Văn Ý.
Buộc bà Nguyễn Chí H trả cho ông Trương Văn L bà Thái Thị N số vàng nhận
cầm cố đất là 50 (Năm mươi) chỉ vàng 24k.
Không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn yêu cầu ông Bùi Nguyễn Đức T cùng
liên đới bà Nguyễn Chí H trả cho ông Trương Văn L, Thái Thị N số vàng 50 chỉ vàng
24k.
Không chấp nhận vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
19/12/2024 được ký kết giữa bà Nguyễn Chí H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và
ông Lâm Ngô P tại Văn phòng C phần đất thửa đất số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích
4.645,8m2.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu công nhận phần đất thửa 46,
diện tích 4.645,8m2 cho bà Nguyễn Chí H, ông Bùi Nguyễn Đức T.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm
Ngô Phúc .
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/12/2024 được
ký kết giữa bà Nguyễn Chí H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và ông Lâm Ngô P
tại Văn phòng C phần đất thửa đất số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2 là hợp
pháp.
Buộc ông Trương Văn L, bà Thái Thị N giao lại cho ông Lâm Ngô Phúc P2 đất
theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa 46, tờ bản đồ số 42, diện tích 4.635,7m2, đất do
ông Lâm Ngô P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã P, tỉnh
Vĩnh Long.
[3] Về chi phí khảo sát đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Là
3.694.000đ, do không chấp nhận vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nên buộc ông Trương Văn L, bà Thái Thị N chịu chi phí này. Đại diện của ông Lòng
N1 đã nộp xong.
[4] Về án phí: Do bị đơn bà Nguyễn Chí H là người cao tuổi, nhưng bà H không
dự phiên tòa và không có đơn miễn, nên bà H phải chịu án phí theo quy định pháp
luật. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận, do nguyên
đơn là người cao tuổi, có đơn, nên miễn án phí cho nguyên đơn.
-- 13 of 16 --
14
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 244, 288, 177, 179, khoản 1, 2 Điều 227,
khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2025.
Căn cứ các Điều 117, 309, 500, 501, 502, 584, 615 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số
quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về
trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn L,
bà Thái Thị N.
2. Chấm dứt tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998
giữa ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H và ông Trương Văn L. Tờ hợp đồng cầm cố
đất ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998 giữa ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H
và ông Trần Văn S1. Tờ hợp đồng cầm cố đất ruộng được ký kết vào ngày 19/9/1998
giữa ông Bùi Minh T1, bà Nguyễn Chí H và ông Phạm Văn Ý.
Buộc bà Nguyễn Chí H trả cho ông Trương Văn L, bà Thái Thị N số vàng nhận
cầm cố đất là 50 (Năm mươi) chỉ vàng 24k.
3. Không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn yêu cầu ông Bùi Nguyễn Đức T cùng
liên đới bà Nguyễn Chí H trả cho ông Trương Văn L, bà Thái Thị N số vàng 50 (Năm
mươi) chỉ vàng 24k.
4. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất sử dụng đất ngày 19/12/2024 được ký kết giữa bà Nguyễn
Chí H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và ông Lâm Ngô P được các bên ký kết tại
Văn phòng C phần đất thửa số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2.
5. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu công nhận cho hàng thừa
kế thứ nhất của ông Bùi Minh T1 là bà Nguyễn Chí H, ông Bùi Nguyễn Đức T được
quyền sử dụng đất thửa 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, đất tọa lạc xã P, tỉnh
Vĩnh Long.
6. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Lâm Ngô Phúc .
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/12/2024 được
ký kết giữa bà Nguyễn Chí H đại diện là bà Trương Thị Minh P1 và ông Lâm Ngô P
tại Văn phòng C phần đất thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.645,8m2, đất
tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long) là hợp
-- 14 of 16 --
15
pháp.
Buộc ông Trương Văn L bà Thái Thị N phải giao lại cho ông Lâm Ngô Phúc P2
đất theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất thửa 46, tờ bản đồ số 42 (tờ bản đồ cũ là
12), diện tích 4.635,7m2, loại đất lúa nước, đất do ông Lâm Ngô P đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
(nay là xã P, tỉnh Vĩnh Long).
Phần đất thửa 46, diện tích 4.635,7m2 có kích thước các móc như sau: a, 2, 3,
4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, b, a) (kèm theo trích đo hiện trạng khu đất).
7. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông P yêu cầu ông L bà N bồi thường thiệt
hại cho ông P không làm lúa được với số tiền 7.120.000đ.
8. Về chi phí khảo sát đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là
3.694.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi bốn nghìn đồng), buộc ông Trương Văn
L, bà Thái Thị N chịu chi phí này. Người đại diện của nguyên đơn đã nộp xong.
9. Về án phí: Buộc bị đơn Nguyễn Chí H phải chịu 35.600.000 đồng (Ba mươi
lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trương Văn L, bà Thái Thị N phải chịu 900.000 đồng (Chín trăm nghìn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Do ông L bà N là người cao tuổi nên miễn nộp tiền
án phí cho ông L bà N.
Hoàn trả cho ông Lâm Ngô P số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000675 ngày 22/7/2025 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Vĩnh Long
10. Về quyền kháng cáo: Các đương có mặt được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt được quyền
kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được thông báo niêm yết theo quy định pháp luật.
11. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 1-Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 1-Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Hồng Điệp
-- 15 of 16 --
16
-- 16 of 16 --