CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2026/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 3 năm 2026
Qua người khác giới thiệu, nên bà H có quen biết bà Nguyễn Thị Hồng N. Đến
ngày 07/11/2022 bà N có hỏi vay tiền của bà H số tiền 450.000.000 đồng, nên bà H
đồng ý cho bà N vay, lãi suất thoả thuận 3%/tháng, đóng lãi cuối tháng. Thời hạn vay
06 tháng kể từ ngày 07/11/2022 đến ngày 07/5/2023, có làm biên nhận do bà N viết,
trong quá trình vay bà N có trả cho bà H 04 tháng tiền lãi với số tiền 54.000.000 đồng,
sau đó không trả nữa .
Đến ngày 29/3/2023 bà N lại hỏi vay của bà H số tiền 100.000.000 đồng, vay
để làm ăn, hai bên không làm biên nhận chỉ thống nhất qua tin nhắn, bà N hứa đến
tháng 5/2023 sẽ trả luôn, đến nay bà N vẫn chưa trả.
Đến ngày 02/5/2023, bà N có thoả thuận với bà H, để bà N bán đất cho bà H trừ
nợ cho bà N, nên bà H đồng ý, sau đó hai bên ký kết hợp đồng đặt cọc, bà H đưa cho
bà N số tiền đặt cọc 700.000.000 đồng, bà H đợi thời gian cho hai bên ký hợp đồng
chuyển nhượng, nhưng bà N cứ hẹn hoài không đi ký chuyển nhượng cho bà H, sau đó
bà H tìm hiểu thì được biết bà N đặt cọc cho bà H là thửa đất của người khác, không
phải đất bà N.
Nay bà H yêu cầu bà N trả cho bà H số tiền gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi với
mức lãi suất 1%/tháng tính từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2025 là 31 tháng với số tiền
lãi là 139.000.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 589.000.000 đồng.
Yêu cầu bà N trả số tiền 100.000.000 đồng tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng
tính từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2025 là 31 tháng với số tiền lãi là 31.000.000 đồng,
tổng cộng gốc và lãi là 131.000.000 đồng.
Yêu cầu bà N trả số tiền 700.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng
tính từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2025 là 31 tháng với số tiền lãi là 217.000.000
đồng, tổng cộng gốc và lãi là 917.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý
vụ án và thông báo về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải
hai lần cho Nguyễn Thị Hồng N đến Tòa án làm việc, văn bản tố tụng gửi cho bà N,
do bà N không có ở nhà, nên Tòa án đã thông báo niêm yết công khai theo quy định
pháp luật, đến ngày làm việc N không đến và không gửi bản khai ý kiến về việc bà H
yêu cầu bà N trả nợ, căn cứ Điều 220, 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành
quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.