CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcphiên tòa số 33/2026/QĐST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
2
sử dụng tiền biêu để mua bán đất. Hiện đất chưa bán được nên bà chưa có tiền trả
cho bà H. Hai bên đã thống nhất số tiền biêu bà T còn nợ của bà H là 117.000.000
đồng. Bà Trương bảo bà H viết giấy nhận tiền, bà Trương K2. Bà H đã nhiều lần
yêu cầu bà Trương T1 nhưng bà Trương K1 thực hiện. Do đó, bà H khởi kiện yêu
cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng buộc bà Trương T1 số tiền biêu là
117.000.000 đồng.
Ngày 03/12/2025, bị đơn có bản trình bày ý kiến: bà cho rằng không nhận
được các tài liệu chứng cứ do bà H cung cấp nên bà không nắm được tính xác thực,
đúng đắn và nguồn gốc các tài liệu kèm theo đơn. Bà đề nghị Tòa án yêu cầu phía
nguyên đơn gửi cho bị đơn bản sao các tài liệu. Tại đơn xin vắng mặt ngày
12/3/2026, bà T trình bày do tính chất công việc và sức khỏe không đảm bảo nên
bà xin vắng mặt và hoãn phiên tòa. Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng đã hoãn
phiên tòa ngày 07/4/2026.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hữu K trình bày: ông
thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà H. Ông yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 –
Đà Nẵng buộc bà Trương trả số tiền biêu cho vợ chồng của ông là 117.000.000
đồng.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ: nguyên đơn nộp 01 bản chính và 01 bản
phô tô Giấy nhận tiền lập ngày 26/10/2024; 01 đơn xin xác nhận, 01 bản sao căn
cước công dân. Tòa án thu thập: 01 biên bản xác minh tại Công an xã T cho biết: bà
Trương đăng K2 hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã T, thành phố Đà Nẵng, do ông
Trần Ngọc H1 (chồng của bà T) làm chủ hộ. Hiện bà Trương S chung nhà với ông
H1.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng phát
biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ
lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa
vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.