Điều 35. của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Võ Thị Minh H3 từ 200.000.000 đồng đến
250.000.0000 đồng.
Luật sư Hoàng Văn H5 và luật sư Vũ Quang Đ2 trình bày luận cứ bào chữa
cho bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Phương Hồng H1 như sau:
Về tội danh, luật sư cho rằng các bị cáo không phạm hai tội vì các bị cáo chỉ
thực hiện một hành vi mua bán hóa đơn vì mục đích trốn thuế. Ngoài ra, Viện kiểm
sát nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại
-- 14 of 24 --
15
điểm b khoản 1 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo
K, bị cáo H1 vì các bị cáo này sau khi sự việc xảy ra đã khắc phục toàn bộ hậu quả
đối với nghĩa vụ tài chính của công ty. Đồng thời cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét đến trường hợp đặc biệt của bị cáo K và H1, Công ty của các bị cáo thi công
trong điều kiện đặc biệt, vùng núi khó khăn nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội
cho đất nước nên các bị cáo cũng cần được xem xét đến các tình tiết này.
Sau khi luật sư trình bày luận cứ bảo vệ cho bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn
Phương Hồng H1, tại phiên tòa Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên phần luận tội.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét
xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều
tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Từ năm 2020 đến năm 2022, Lê Bá T, Nguyễn Thị Hoài T3,
Nguyễn Thị Anh Đ có hành vi mua 225 hóa đơn GTGT bất hợp pháp của Đặng Thị
H6 nhằm mục đích kê khai thuế cho Công ty Cổ phần T15 với giá trị ghi trên hóa
đơn trước thuế 1.578.966.196 đồng, thuế VAT 140.390.705 đồng, tổng giá trị sau
thuế 1.719.356.901 đồng. Qua giám định xác định số tiền trốn thuế của Công ty là:
253.618.809 đồng.
Từ năm 2020 đến năm 2022, Nguyễn Văn K, Nguyễn Phương Hồng H1 có
hành vi mua 96 hóa đơn GTGT bất hợp pháp với mục đích kê khai thuế cho Cổ phần
Tư vấn xây dựng T14 tổng trị trước thuế là 673.554.125 đồng, thuế suất 56.614.375
đồng và giá trị sau thuế là 730.168.500 đồng. Qua giám định xác định số tiền trốn
thuế của Công ty là: 188.882.900 đồng.
Võ Thị Minh H3 có hành vi mua của Lê Thị Mỹ D2 96 hóa đơn GTGT, D2
mua lại của Đặng Thị H6 rồi đưa cho H3; H3 đưa cho Nguyễn Phương Hồng H1 để
H1 kê khai thuế cho Công ty T14. Số tiền thu lợi bất chính của D2 là 10.000.000
đồng và của H3 là 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của
mình.
-- 15 of 24 --
16
Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo Lê Bá T, Nguyễn Văn K,
Nguyễn Thị Hoài T3, Nguyễn Thị Anh Đ, Nguyễn Phương Hồng H1 không chỉ là
đồng phạm trong việc mua bán hóa đơn nhằm hợp thức hóa đầu vào của hàng hóa,
mà còn có hành vi trốn thuế của nhà nước. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự đối với 02 tội là có căn cứ. Việc luật sư của bị cáo Nguyễn Văn K và Nguyễn
Phương Hồng H1 cho rằng các bị cáo chỉ phạm một tội là không có căn cứ, nên
không được chấp nhận.
Như vậy Cáo trạng số 06/CT-VKS-KV4 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng truy tố: Bị cáo Lê Bá T, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị
Hoài T3, Nguyễn Thị Anh Đ, Nguyễn Phương Hồng H1 phạm tội “Trốn thuế” và
tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo điểm
d khoản 1 Điều 200 và điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm năm 2017, năm 2025. Bị cáo Lê Thị Mỹ D2, Võ Thị Minh H3 phạm
tội “Mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” theo quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
năm 2017, năm 2025 là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm
trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, hợp thức hóa hàng hóa
trôi nổi, gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh
lành mạnh nên cần xử phạt thỏa đáng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đối
với các bị cáo, doanh nghiệp mua hóa đơn, mặc dù kinh doanh hợp pháp nhưng việc
hợp thức hóa đầu vào, kê khai thuế làm giảm nghĩa vụ thuế đối với nhà nước cũng
cần xử phạt thỏa đáng, tương ứng với số tiền trốn thuế và số tiền nộp khắc phục hậu
quả. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo trong các nhóm tội phạm
chỉ đơn thuần mua bán hóa đơn, nhằm hợp thức hóa chứng từ nhằm mục đích trốn
thuế và thu lợi bất chính, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc thống nhất với nhau,
phân công vị trí, vai trò của từng bị cáo. Vì vậy trong vụ án này chỉ có vai trò là đồng
phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ. Tuy nhiên các bị cáo cũng phải chịu
trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm.
[4] Xét về tính chất, vai trò của từng bị cáo thì thấy:
Đối với bị cáo Lê Bá T, Nguyễn Văn K, bản thân các bị cáo là giám đốc doanh
nghiệp hơn ai hết các bị cáo phải biết và tuân thủ các quy định của pháp luật về các
nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước và cách vận hành doanh nghiệp sao cho đúng
quy định của pháp luật. Tuy nhiên vì động cơ trốn thuế, bị cáo T và K đã thống nhất
với bị cáo Nguyễn Thị Anh Đ, Nguyễn Phương Hồng H1 là nhân viên kế toán và
Nguyễn Thị Hoài T3 là thủ quỹ thực hiện việc mua bán hóa đơn. Đối với bị cáo Lê
-- 16 of 24 --
17
Thị Mỹ D2 và Võ Thị Minh H3, vì động cơ hám lợi, bất chấp quy định của pháp luật
bán hóa đơn cho các đối tượng nhằm thu lợi bất chính.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các
bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, giải quyết vụ án, các bị cáo thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn K, Lê Bá T, Nguyễn
Phương Hồng H1, Nguyễn Thị Hoài T3, Nguyễn Thị Anh Đ thuộc Công ty T14 và
Công ty T15 đã nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Lê Bá T: Bị cáo có hoạt động thiện nguyện ủng hộ bão lũ năm
2025 số tiền 2.000.000 đồng tại Mặt trận tổ quốc Việt Nam phường H, hiện tại bc là
cha đơn thân đang nuôi cháu Lê Nguyễn Minh A, sinh năm 2006 bị bệnh động kinh
đang điều trị tại Bệnh viện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoài T3: Bị cáo có hoạt động thiện nguyện ủng hộ
bảo lũ năm 2025 số tiền 2.000.000 đồng tại Mặt trận tổ quốc Việt Nam phường A,
thành phố Đà Nẵng. Gia đình của bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có bố ruột
Nguyễn Xuân Q1 và mẹ ruột Hoàng Thị T4 được nhà nước tặng thưởng Huân
chương kháng chiến hạnh ba, huân chương chiến công hạng nhì, huân chương chiến
sĩ vẻ vang. Bên cạnh đó, bị cáo có con ruột là cháu Nguyễn Hoàng Q3 bị khuyết tật
nhẹ rối loạn không tập trung chú ý, có xác nhận chính quyền địa phương. Bản thân
bị cáo bị bệnh hở van động mạch chủ nhẹ nên bị cáo T3 được hưởng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Anh Đ: Gia đình của bị cáo có công với cách mạng,
bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi mẹ ruột bị bệnh hở van tim và có con ruột
bị u gan đang điều trị tại bệnh viện Đ6 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn K: Gia đình của bị cáo có công với cách mạng,
quá trình hoạt động của Cổ phần Tư vấn xây dựng T14 được Ủy ban nhân dân huyện
N tặng giấy khen do có thành tích xuất sắc có đóng góp trong việc đầu tư xây dựng
đường dây điện vào trạm biến áp 110kw trên địa bàn huyện N nên bị cáo được hưởng
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Phương Hồng H1: Tại thời điểm thực hiện hành vi
phạm tội bị cáo mang thai, hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ, gia đình của bị cáo có
công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-- 17 of 24 --
18
Đối với bị cáo Võ Thị Minh H3, Lê Thị Mỹ D2: Các bị cáo đã nộp số tiền thu
lợi bất chính, bị cáo Võ Thị Minh H3 bị trương cơ lực trong người, bị cáo Lê Thị
Mỹ D2 có bệnh lý tăng huyết áp, thoái hóa cột sống thắt lưng, nên được áp dụng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi
lượng hình.
[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, Các bị cáo Lê Bá T, Nguyễn Văn
K là giám đốc doanh nghiệp, hiện tại công ty của hai bị cáo đang hoạt động bình
thường. Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T3, Nguyễn Thị Anh Đ, Nguyễn Phương Hồng H1
chỉ là nhân viên, người làm công ăn lương. Chỉ vì mục đích hợp thức hóa các thủ tục
cho công ty mà vi phạm pháp luật. Bị cáo Lê Thị Mỹ D2, Võ Thị Minh H3, vì hám
lợi đã có hành vi bán hóa đơn nhằm thu lợi bất chính, tuy nhiên bị cáo D2, bị cáo H3
đã nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Trong vụ án này, tội phạm liên quan đến
hoạt động về kinh tế tư nhân, khung hình phạt chính của tội danh được quy định tại
Bộ luật Hình sự có quy định hình phạt chính là phạt tiền. Bản thân các bị cáo trong
vụ án này đều có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự. Người đứng đầu trong
vụ án này là bị cáo Đặng Thị H6 đã được xét xử hình phạt nghiêm khắc. Nhằm cụ
thể hóa quy định của Đảng, nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, để tạo điều kiện
cho bị cáo K, T trong việc điều hành công ty, các bị cáo còn lại tham gia đồng phạm
với vai trò không đáng kể, trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng