CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc17/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
2
được nên chị Hồ Thị Ô yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ A
C.
- Về con chung: Chị Hồ Thị Ô và anh Hồ A C có ba con chung là cháu Hồ
A T, sinh ngày 10/11/2014, cháu Hồ Thị N, sinh ngày 28/3/2016 và cháu Hồ
Văn T1, sinh ngày 05/01/2018. Chị Ô có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cả ba cháu và không yêu cầu anh Hồ Ô C1 phải có nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị Ô không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 24/4/2026, bị đơn anh Hồ A C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn về tình cảm của hai vợ chồng như chị
Hồ Thị Ô trình bày là đúng và đến nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy,
anh đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị Ô .
- Về con chung: Anh Hồ A C đồng ý với nguyện vọng của chị Hồ Thị Ô .
Chị Hồ Thị Ô trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con chung là cháu
Hồ A T, sinh ngày 10/11/2014, cháu Hồ Thị N, sinh ngày 28/3/2016 và cháu Hồ
Văn T1, sinh ngày 05/01/2018 và anh Hồ Ô C1 không phải có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hồ A C không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Do chị Hồ Thị Ô và anh Hồ A C đều không yêu cầu hòa giải, nên căn cứ
khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa. Chị Ô, anh
C đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt chị Ô, anh C là đúng quy
định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83,
Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.