Điều 38. Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị
cáo La Thị H9, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
-- 21 of 29 --
22
[3] Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định các bị cáo Rơ Mah H, Thiều Quang N kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo gồm Trần Thanh N1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân
T, Nguyễn Văn T1, Lê Thị Thanh L, Phạm Đức T2 và Nguyễn Ánh D kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Rơ Mah H, Thiều Quang N, Trần Thanh N1, Phạm Thanh H1,
Ngô Xuân T, Nguyễn Văn T1, Lê Thị Thanh L, Phạm Đức T2 và Nguyễn Ánh D
đều giữ nguyên nội dung như đơn kháng cáo.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà
Nẵng phát biểu ý kiến: tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những
người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Đối với các kháng cáo của Thiều Quang N, Phạm Đức T2,
Nguyễn Văn T1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D, Lê Thị Thanh L,
Trần Thanh N1 đề nghị không chấp nhận. Đối với kháng cáo của bị cáo Rơ Mah H
thì đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, giảm cho mỗi bị cáo một phần
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp
luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là
hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Bị cáo La Thị H9 làm nghề môi giới dịch vụ xin visa đi các nước, có 22
trường hợp (gồm 07 người là bị cáo trong vụ án: Phạm Đức T2, Nguyễn Văn T1,
Trần Thanh N1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D và Lê Thị Thanh
L; 03 trường hợp đã bị xét xử gồm: Lê Quang P, Nguyễn Văn H10 và Trần Văn
H11; 02 trường hợp gồm Nguyễn Thanh M2 và Lê Văn H15 không làm và không
sử dụng giấy tờ giả; 10 trường hợp chỉ xác định được thông tin là giả: Nguyễn Văn
L4, sinh năm 1978, Nguyễn Văn Lâm sinh năm 1987, Nguyễn Văn H16, Hồ Văn
L5, Hoàng Quốc T10, Nguyễn Văn H17, Hoàng Quốc H18, Nguyễn Khánh H19,
Lưu Văn T13 và Võ Thị B1) liên hệ với H9 muốn đi xuất khẩu lao động tại Hàn
-- 22 of 29 --
23
Quốc nhưng thời điểm đó hộ khẩu ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thanh Hóa
khó xin thị thực đi Hàn Quốc nên phải nhập khẩu vào Gia Lai. H9 liên hệ với
Thiều Quang N (lúc này N đang là trưởng Công an xã I, huyện Đ) nhờ N nhập
khẩu cho một số trường hợp vào tỉnh Gia Lai để làm ăn nhưng phải thay đổi quê
quán và sẽ gửi tiền cho N. N nhờ Rơ Mah H làm các thủ tục, cụ thể như sau:
[2.1] Về hành vi phạm tội “Giả mạo trong công tác”:
Thiều Quang N liên hệ với Rơ Mah H (thời điểm này Rơ Mah H đang là
trưởng Công an xã I, huyện I – là người có nhiệm vụ giải quyết việc chuyển khẩu,
nhập khẩu cho công dân) nói có một số người quen muốn chuyển hộ khẩu về Đ để
mua đất làm ăn nhưng không có giấy tờ gì nên nhờ H làm giấy chuyển hộ khẩu từ
xã I, huyện I về xã I, huyện Đ trong khi 19 trường hợp này (trừ 03 trường hợp đã
bị xét xử) không có hộ khẩu tại xã I, huyện I. H đồng ý và đã tự nghĩ ra các thông
tin về nơi thường trú, họ tên chủ hộ nơi đi, quan hệ với chủ hộ, lý do chuyển đi
điền vào 19 giấy chuyển khẩu trong đó có 02 giấy chuyển khẩu Hơnh lùi về năm
2016 và thu lợi số tiền 19.000.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rơ Mah H về tội
“Giả mạo trong công tác” với tình tiết định khung là “Làm, cấp giấy tờ giả với số
lượng từ 11 giấy tờ giả trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 359 Bộ luật Hình sự là
có căn cứ, đúng tội.
[2.2] Về hành vi phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”:
Mỗi lần nhờ Nam nhập khẩu H9 cung cấp ảnh, thông tin cá nhân và điều
chỉnh tên, năm sinh, quê quán của 22 trường hợp nêu trên. Có được các giấy
chuyển khẩu do Rơ Mah H làm, Thiều Quang N đã lợi dụng mối quan hệ với các
hộ dân tại Đ để bảo lãnh cho đăng ký nhập khẩu. N liên hệ với Lê Văn H13 (trong
năm 2017 là phó trưởng Công an xã I) tiếp nhận hồ sơ nhập khẩu cho 06 trường
hợp và Lê Quang H14 (từ cuối năm 2017 đến 3/2019 là phó trưởng Công an xã I)
tiếp nhận hồ sơ nhập khẩu cho 16 trường hợp vào xã I, huyện Đ với thông tin đã
cải chính trước đó và làm tờ khai đề nghị cấp chứng minh nhân dân đưa cho H9 để
H9 cùng các bị cáo và các đối tượng đi làm 22 Giấy chứng minh nhân dân và 21
hộ chiếu, làm các thủ tục xuất nhập cảnh. Trừ 03 trường hợp đã bị xét xử trước đó,
T21 bị truy cứu trách nhiệm hình sự với 19 trường hợp làm giấy tờ giả và hưởng
lợi 28.500.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Thiều Quang N, bị
cáo La Thị H9 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định
khung “Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên” theo điểm a khoản 3
Điều 341. Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2.3] Hành vi phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, “Sử
dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”:
-- 23 of 29 --
24
Khi đã có các giấy tờ nhập khẩu tại xã I, huyện Đ với tên và quê quán giả,
ngày, tháng, năm sinh giả thì các bị cáo Phạm Đức T2, Nguyễn Văn T1, Trần
Thanh N1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D và Lê Thị Thanh L đã
thực hiện thủ tục cấp chứng minh nhân dân tại Công an tỉnh G, sau khi có Chứng
minh nhân dân lại tiếp tục đến Công an tỉnh G làm hộ chiếu.
Sau khi có chứng minh nhân dân và hộ chiếu, H9 liên hệ nộp hồ sơ thông qua
công ty D3 để tổ chức cho T2, T1, N1, H1 đi du lịch Singapore; tổ chức cho T, D
đi du lịch Thái Lan với mục đích để đẹp hộ chiếu dễ xin visa Hàn Quốc và đã xin
visa Hàn Quốc thành công và đưa L đi lao động tại Hàn Quốc. Đối với 10 trường
hợp chỉ xác định được thông tin giả, qua điều tra H9 đã tổ chức cho 09 trường hợp
đi xuất cảnh, nhập cảnh vào các nước Singapore, Thái Lan và có trường hợp đã xin
được visa lao động tại Hàn Quốc.
Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định bị cáo Rơ
Mah H phạm tội “Tội giả mạo trong công tác”, bị cáo Thiều Quang N phạm tội
“Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; các bị cáo Phạm Đức T2, Nguyễn Văn
T1, Trần Thanh N1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D và Lê Thị
Thanh L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo Rơ Mah H thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng, bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được giao để làm, cấp giấy tờ giả cho nhiều
người, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức.
Hành vi phạm tội của bị cáo Thiều Quang N thuộc trường hợp nghiêm trọng,
gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đồng phạm
với bị cáo chủ mưu.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Đức T2, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh
N1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D và Lê Thị Thanh L thuộc
trường hợp sử dụng tài liệu giả tên, giả nơi sinh, giả ngày tháng năm sinh để xuất
cảnh ra nước ngoài, ảnh hưởng xấu đến tình hình xuất nhập cảnh.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N nhiều lần làm giả
giấy tờ, bị cáo H cũng nhiều lần lợi dụng chức vụ giả mạo giấy tờ nên các bị cáo
đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”
theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại cũng nhiều lần
thực hiện hành vi phạm tội nhưng đã áp dụng định khung hình phạt nên không bị
áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-- 24 of 29 --
25
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải
nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án trước, các bị cáo Thiều Quang
N và Rơ Mah H đã khai báo thành khẩn hành vi của bản thân cũng như khai hành
vi của một số đối tượng liên quan. Tuy nhiên, do bị cáo H9 bỏ trốn nên Cơ quan
điều tra không có căn cứ để truy tố nên đã tách ra xử lý vụ án khác, nay đã bắt
được bị cáo H9 và khởi tố thêm các bị cáo có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ
quan tổ chức, các bị cáo H, N cũng tích cực khai báo để sớm xử lý vụ án. Do đó,
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp
tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án” theo điểm t khoản
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho hai bị cáo.
Bị cáo Thiều Quang N được Công an huyện Đ xác nhận đã cung cấp thông tin
về trường hợp Lê Hoàng Minh V thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy
và Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Quá trình điều tra bị cáo đã
tích cực giúp cơ quan an ninh điều tra sớm giải quyết được vụ án khác và được cơ
quan An ninh điều tra xác nhận. Trong quá trình công tác bị cáo được Chủ tịch Ủy
ban nhân dân huyện Đ tặng Giấy khen vì đạt thành tích tốt trong phong trào thi đua
yêu nước các năm 2014, 2016, 2017, 2018, 2019 và có thành tích tốt trong công
tác đấu tranh phòng chống người dân tộc thiểu số vượt biên Campuchia, Thái Lan;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã I tặng Giấy khen vì có thành tích tốt trong công tác
tuyển quân năm 2018; Giám đốc công ty G tặng Giấy khen vì đã hoàn thành tốt
công tác phối hợp và giữ vững an ninh trật tự 4 năm (2006-2010), bị cáo có bố là
Thiều Quang T3 được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba
và hai bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Nên bị cáo N được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội đã lập công chuộc tội” và
“Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện
tội phạm” theo điểm t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Rơ Mah H được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện I tặng Giấy khen vì
có thành tích xuất sắc trong hoạt động công tác dân tộc giai đoạn 2014-2019, và có
thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện nhiệm vụ diễn tập năm 2018; được
Giám đốc Công an tỉnh G tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong phong
trào thi đua; được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã I tặng Giấy khen vì có thành tích
xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng địa phương, năm 2017,
2018, vì có thành tích xuất sắc trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, vì có
thành tích trong phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi và có thành
tích xuất sắc trong công tác bầu cử Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm
kỳ 2016-2021. Vì bị cáo được cấp trên trực tiếp tặng nhiều Giấy khen với thành
tích xuất sắc nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội
có thành tích xuất sắc trong công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự.
-- 25 of 29 --
26
Bị cáo Lê Thị Thanh L tại thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo đang có thai 35
tuần 01 ngày, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là phụ nữ
có thai” theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Thanh N1 được tặng Giấy khen trong quá trình đi nghĩa vụ quân
sự, có thành tích trong công tác phòng chống Covid tại địa phương, được chính
quyền xã xác nhận; có ông ngoại là Trần Ngọc L9, bà ngoại là Lê Thị L10 được
nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.
Bị cáo Phạm Thanh H1 từng tham gia nghĩa vụ quân sự, có bố là ông Phạm
Đức H5 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Bằng khen trong công tác và học tập; Mẹ
là bà Trương Thị L1 được nhà nước tặng Bằng khen trong công cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước; Ông Phạm Bưu L11 ông nội được nhà nước tặng thưởng Huy
chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Bị cáo Phạm Đức T2 có bố và mẹ tham gia cách mạng, được chủ tịch tỉnh
Thanh Hóa tặng bằng khen vì có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu
nước; ông nội Phạm Đức L12 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng
chiến chống Pháp hạng ba; bị cáo đã ly hôn và là lao động chính đang nuôi 02
con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2024.
Bị cáo Nguyễn Ánh D có có thành tích trong công tác xã hội có xác nhận của
chính quyền xã và có ông nội là ông Nguyễn Đình C4 được nhà nước tặng thưởng
Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
Bị cáo Lê Thị Thanh L có ông bà được nhà nước tặng thưởng Huân chương
kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và Huân chương chiến sỹ vẻ vang.
Do đó, các bị cáo N1, H1, T2, L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị
cáo tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
[5] Xem xét về hình phạt:
Các bị cáo Rơ Mah H, Thiều Quang N tiếp tục bị xét xử giai đoạn 2 với cùng
tội danh và cùng một chuỗi hành vi phạm tội, nhưng được tách làm hai vụ án, do
có nguyên nhân vì bị cáo H9 bỏ trốn và chưa tìm được các bị cáo khác, là đã bất
lợi cho hai bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo N đã được Toà án cấp sơ thẩm quyết
định mức hình phạt phù hợp, nên giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo N; đối với bị
cáo H là người dân tộc thiểu số, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên được xem xét giảm
nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Các bị cáo Phạm Đức T2, Nguyễn Văn T1, Trần Thanh N1, Phạm Thanh H1,
Ngô Xuân T, Nguyễn Ánh D và Lê Thị Thanh L muốn ra nước ngoài lao động để
phục vụ cuộc sống nhưng lại sinh ra ở các vùng quê không được nước này tiếp
-- 26 of 29 --
27
nhận, nên các bị cáo đã phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nay đều
tỏ ra ăn năn hối cải nên đều có thể khoan hồng cho các bị cáo. Tuy nhiên, các bị
cáo chỉ được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự,
nên Toà án cấp sơ thẩm đã buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù với mức án khởi
điểm của khung hình phạt là có phần nghiêm khắc, nhưng đúng quy định pháp
luật.
Bị cáo Nguyễn Ánh D cung cấp tài liệu mới thể hiện đã chủ động, tích cực
tham gia cứu nạn đuối nước tại địa phương được xác nhận và được xã T tặng Giấy
Khen ngày 25/02/2026. Bị cáo Trần Thanh N1 cung cấp tài liệu chứng cứ mới thể
hiện đã hợp tác và cung cấp thông tin giúp Cơ quan Công an phát hiện tội phạm
mới để xử lý, được Công an xac T xác nhận; đây là tình tiết lập công chuộc tội. Bị
cáo Lê Thị Thanh L cung cấp tài liệu có xác nhận của Chính quyền địa phương về
hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Cả 3 bị cáo D, N1 và L đều đủ điều kiện để áp
dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, nên xem xét áp dụng và giảm cho các
bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Các bị cáo Phạm Đức T2, Nguyễn Văn T1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T
cũng có cung cấp tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện hoàn
cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn, gia đình có công cách mạng, tuy nhiên đây
là tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không đủ điều kiện để
áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của các bị cáo.
[6] Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét; việc thi hành án được thực hiện
theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm các bị cáo Thiều Quang N, Phạm Đức T2,
Nguyễn Văn T1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000
đồng. Các bị cáo Rơ Mah H, Nguyễn Ánh D, Lê Thị Thanh L, Trần Thanh N1
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thiều Quang N, Phạm Đức T2,
Nguyễn Văn T1, Phạm Thanh H1, Ngô Xuân T; chấp nhận kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt của các bị cáo Rơ Mah H, Nguyễn Ánh D, Lê Thị Thanh L, Trần
Thanh N1; sửa một phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2025/HS-
ST ngày 22-9-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, đối với các bị cáo Rơ Mah
H, Nguyễn Ánh D, Lê Thị Thanh L, Trần Thanh N1.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 359; điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Rơ
-- 27 of 29 --
28
Mah H 08 (tám) năm tù, về tội “Giả mạo trong công tác”; thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
2.2 Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Thiều
Quang N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
2.3 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;