CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 4 năm 2026, giữa các đương
hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Văn P trình bày:
Tôi Huỳnh Văn P và bà Phạm Kim T không quen biết, tôi quen ông Lương
Ngọc T1 và được ông T1 giới thiệu nên tôi có xác lập hợp đồng thuê nhà với bà T.
Ngày 30/6/2023, tôi và bà Phạm Kim T ký hợp đồng thuê nhà. Nội dung thỏa
thuận: bà T cho tôi thuê căn nhà cấp 4 tại địa chỉ số A, đường T, thị trấn P, huyện K,
(nay là xã K), tỉnh Đắk Lắk. Thời hạn thuê 05 năm, từ ngày 30/6/2023 đến ngày
30/6/2028, giá thuê 3.500.000 đồng/tháng, thanh toán 06 tháng/lần.
Sau khi ký hợp đồng, tôi đã đặt cọc cho bà T số tiền 10.000.000 đồng và thanh
toán tiền thuê 06 tháng đầu là 21.000.000 đồng. Bà T đã giao nhà cho tôi, tôi đã nhận
nhà và tiến hành sửa chữa để kinh doanh shop quần áo thể thao.
Trong quá trình kinh doanh, khi tôi liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng
ký kinh doanh và ký hợp đồng điện, tôi được các cơ quan yêu cầu cung cấp hợp đồng
thuê nhà có công chứng và bản sao công chứng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tôi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà T cung cấp các giấy tờ trên nhưng bà T không thực
hiện, việc trao đổi chỉ qua điện thoại, không lập thành văn bản nên tôi không có chứng
cứ cung cấp cho Tòa án.
Do không đủ điều kiện hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh và sử dụng điện,
mục đích thuê nhà không thực hiện được, nên tôi chỉ kinh doanh shop quần áo thể
thao được khoảng 3 tháng thì chấm dứt, không kinh doanh nữa. Tôi đã dọn toàn bộ
tài sản ra khỏi nhà và yêu cầu bà T hoàn trả tiền đặt cọc và tiền thuê đã thanh toán.
Tuy nhiên, bà T không thực hiện việc hoàn trả.
Nay tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung:
Chấm dứt hợp đồng hợp đồng thuê nhà giữa bà Phạm Kim T và ông Huỳnh
Văn P ký ngày 30/6/2023.
Buộc bà Phạm Kim T phải trả cho ông Huỳnh Văn P số tiền thuê nhà 31.000.000
đồng, trong đó 21.000.000 đồng tiền trả 6 tháng thuê nhà và 10.000.000 đồng tiền đặt
cọc.
- Tại bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị
đơn bà Phạm Kim T trình bày:
Tôi Phạm Kim T và ông Lương Ngọc T1 chung sống với nhau nhưng không
đăng ký kết hôn, ông Huỳnh Văn P và ông T1 có mối quan hệ là bạn bè. Nguồn gốc
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.