Thái Văn Thiên B: 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 12/11/2024.
19. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan
Đức H4: 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
24/12/2024.
3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự;
Nghị
quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của tất cả những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan (là bố, mẹ, vợ, chồng, anh, chị em) của các bị cáo: Bùi Trung Đ, Thái Anh
Đ1, Hoàng Thị Mỹ H1, Hồ Ngọc N1, Trần Vũ Trọng Đ2, Nguyễn Thị Diệu H3,
Cao Thị Diệu S, Thái Văn Thiên B, Đinh Văn C1, Đoàn Hữu N, Trần Minh C,
Bùi Ngọc T, Lê Thị Mỹ H2 đã tự nguyện bồi thường cho các bị cáo mà không
yêu cầu các bị cáo bồi hoàn.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Bùi Trung Đ và Thái Anh Đ1 đã tự
nguyện bồi thường cho bà Lê Thị Anh T1 số tiền 4,8 tỷ đồng (mỗi bị cáo bồi
thường 2,4 tỷ đồng) mà không buộc các bị cáo khác liên đới bồi thường số tiền
này.
+ Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho các bị hại số tiền cụ thể như sau:
bà Lê Thị Anh T1 1.970.184.271 đồng; chị Trần Thị Thùy L2 3.231.691.339
đồng; anh Nguyễn Việt H5 25.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Hương D
135.000.000 đồng; anh Nguyễn Đức A 234.247.200 đồng; ông Lê Văn H6
143.432.442 đồng; chị Vũ Thị Thu H7 299.000.000 đồng; anh Trịnh Văn T2
24.733.100 đồng; chị Vũ Thị Hải N2 24.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoài N3
191.850.000 đồng; bà Phạm Thị Hải M 24.868.686 đồng; anh Trần Đình T3
12.686.868 đồng. Trong đó các bị cáo phải bồi thường số tiền cụ thể như sau:
1. Bùi Trung Đ: 667.366.700 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi
thường, còn thừa 482.633.300 đồng (tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng lợi
bất chính, đảm bảo thi hành án).
-- 32 of 56 --
33
2. Thái Anh Đ1: 667.366.700 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền bồi
thường, còn thừa 482.633.300 đồng (tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng lợi
bất chính, đảm bảo thi hành án).
3. Lê Thị Trung Á: 667.366.700 đồng;
4. Bùi Ngọc T: 667.366.700 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 20.000.000
đồng; còn phải nộp 647.366.700 đồng.
5. Mai Kim N4: 667.366.700 đồng;
6. Trần Minh C: 667.366.700 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 30.000.000
đồng; còn phải nộp: 637.366.700 đồng.
7. Bùi Duy H: 667.366.700 đồng;
8. Đoàn Hữu N: 667.366.700 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 180.000.000
đồng, còn phải nộp 487.366.700 đồng.
9. Nguyễn Văn L 197.018.400 đồng;
10. Phạm Anh L1: 558.873.000 đồng;
11. Trần Vũ Trọng Đ2: 59.838.100 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp
150.000.000 đồng còn thừa 90.161.900đ nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số tiền
hưởng lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các nghĩa vụ
mà bị cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
12. Hồ Ngọc N1: 39.300.200 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 135.000.000
đồng, còn thừa 95.699.800 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng
lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà bị
cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
13. Nguyễn Thị Diệu H3: 14.343.200 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp
143.432.442 đồng, còn thừa 129.089.242 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào
số tiền hưởng lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các
nghĩa vụ mà bị cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
14. Cao Thị Diệu S: 2.748.100 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 24733.100
đồng, còn thừa 21.985.000 đồng;
15. Phan Đức H4: 2.666.700 đồng;
16. Lê Thị Mỹ H2: 23.803.600 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 191.850.000
đồng; còn thừa 168.046.400 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng
lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà bị
cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
17. Hoàng Thị Mỹ H1: 28.189.100 đồng; xác nhận bị cáo đã nộp
70.000.000 đồng, còn thừa 41.810.900 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số
tiền hưởng lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các
nghĩa vụ mà bị cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
18. Đinh Văn C1: 1.409.700 đồng; xác nhận bị cáo đã nộp 37.000.000
đồng, còn thừa 35.590.300 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng
-- 33 of 56 --
34
lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà bị
cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
19. Thái Văn Thiên B: 2.486.900 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp 24.868.686
đồng; còn thừa 22.381.786 đồng nhưng tạm giữ để khấu trừ vào số tiền hưởng
lợi bất chính, án phí để đảm bảo thi hành án, sau khi đối trừ các nghĩa vụ mà bị
cáo phải thực hiện, còn thừa thì trả lại bị cáo.
+ Buộc các bị cáo phải truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính sung công
quỹ Nhà nước, cụ thể như sau:
- Bùi Trung Đ: 1.350.000.000 đồng,
- Thái Anh Đ1: 100.000.000 đồng.
- Lê Thị Trung Á: 1.000.000.000 đồng.
- Bùi Ngọc T: 244.000.000 đồng.
- Mai Kim N: 175.000.000 đồng.
- Trần Minh C: 696.000.000 đồng.
- Bùi Duy H: 250.000.000 đồng.
- Đoàn Hữu N1: 330.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn L: 250.000.000 đồng.
- Phạm Anh L1: 140.000.000 đồng.
- Trần Vũ Trọng Đ2: 52.000.000 đồng.
- Đinh Văn C1: 50.000.000 đồng.
- Hồ Ngọc N2: 34.000.000 đồng.
- Lê Thị Mỹ H1: 35.000.000 đồng.
- Nguyễn Thị Diệu H2: 120.000.000 đồng.
- Cao Thị Diệu S: 42.000.000 đồng.
- Hoàng Thị Mỹ H3: 28.000.000 đồng.
- Phan Đức H4: 21.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng khác, án
phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 25/9/2025, các bị cáo Hồ Ngọc N2, Đoàn Hữu N1 kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26/9/2025, bị cáo Thái Văn Thiên B kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Ngày 29/9/2025, bị cáo Hoàng Thị Mỹ H3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt và đề nghị xem xét mức độ liên quan của bị cáo trong vụ án.
-- 34 of 56 --
35
Cùng ngày, bị cáo Đinh Văn C1 kháng cáo xem xét lại bản án sơ thẩm và
xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Ngày 30/9/2025, bị cáo Phan Đức H4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Ngày 01/10/2025, các bị cáo Bùi Duy H, Phạm Anh L1 và Trần Vũ Trọng
Đ2 đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Cùng ngày, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ3
kháng cáo toàn bộ bản án. Đến ngày 28/11/2025, Ngân hàng TMCP Đ3 đã có
Đơn rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Ngày 03/10/2025, các bị cáo Bùi Trung Đ, Cao Thị Diệu S kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt.
Cùng ngày, các bị cáo Thái Anh Đ1, Bùi Ngọc T, Mai Kim N, Trần Minh
C, Lê Thị Mỹ H1 kháng cáo toàn bộ nội dung án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự
và xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Thị Diệu H2 kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Ngày 06/10/2025, bị cáo Lê Thị Trung Á kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Bùi Trung Đ, Bùi Duy H, Đoàn Hữu N, Nguyễn Văn L, Phạm
Anh L1 lúc đầu quanh co cho rằng khi vào làm việc tại Công ty U không biết
Công ty có hoạt động phạm pháp và không biết Công ty có kinh doanh chứng
khoán trên sàn giao dịch quốc tế mà sau này khi bị bắt, làm việc với Cơ quan
điều tra mới biết và nhận thức được hành vi phạm tội của mình. Sau khi Hội
đồng xét xử xét hỏi và công bố lời khai của các bị cáo tại quá trình điều tra, các
bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo có kháng cáo trong
vụ án đều giữ kháng cáo với nội dung chỉ là xin giảm nhẹ hình phạt, thể hiện
thái độ ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo và đều cho rằng mức hình phạt mà
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là nặng, các bị cáo đề nghị xin
giảm hình phạt, đồng thời xuất trình các tài liệu thể hiện sau khi xét xử sơ thẩm
đã nộp tiền phạt bổ sung, tiền thu lời bất chính, thực hiện nghĩa vụ nộp tiền án
phí hình sự, dân sự sơ thẩm, đơn xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn
cảnh gia đình; thân nhân các bị cáo có công với Cách mạng, tham gia tích cực
các hoạt động thiện nguyện tại địa phương, một số người bị hại trong vụ án có
đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đều đề nghị HĐXX
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành
đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời
-- 35 of 56 --
36
hạn luật định, hình thức nội dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc
thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ
và hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ nội dung kháng cáo của
các bị cáo, kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo tương ứng về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm, khoản, điều luật như bản án sơ thẩm đã tuyên
là đúng, không oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thể hiện thái độ ăn
năn hối cải, thành khẩn nhận tội; các bị cáo cung cấp thêm nhiều tình tiết giảm
nhẹ mới về hoàn cảnh gia đình, nhân thân, đã chấp hành xong các khoản tiền thu
lời bất chính, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp án phí theo quyết định của bản
án sơ thẩm, một số bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị
cáo… Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm cho mỗi bị cáo từ
04 năm đến 06 năm tù.
Đối với kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ1 đã có đơn xin rút toàn bộ
kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của Ngân hàng là hợp lệ. Đề nghị
HĐXX căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP Đ1
Người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí với quan điểm của đại diện
Viện Công tố; đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đã được tranh tụng, thẩm vấn công khai tại phiên tòa, giảm cho các bị cáo
mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện Công tố đề nghị tại phiên
tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa
phúc thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến
hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của
pháp luật.
[1.2] Kháng cáo của các bị cáo Bùi Trung Đ, Lê Thị Trung Á, Thái Văn
Thiên B, Phạm Đức H, Hoàng Thị Mỹ H1, Hồ Ngọc N, Đoàn Hữu N1, Cao Thị
Diệu S, Bùi Ngọc T, Mai Kim N2, Nguyễn Thị Diệu H2, Lê Thị Mỹ H3, Trần
Minh C, Thái Anh Đ1, Bùi Duy H4, Phạm Anh L, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn
C1, Nguyễn Văn L1 và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
Ngân hàng TMCP Đ3 trong hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp, đủ
điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-- 36 of 56 --
37
[1.3] Quá trình xét xử phúc thẩm, ngày 06/11/2025, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ3 đã có Đơn xin rút kháng cáo. Xét
thấy, việc rút kháng cáo của Ngân hàng là hợp lệ, do đó, HĐXX căn cứ Điều
348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo của Ngân
hàng TMCP Đ3.
[1.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cung cấp nhiều tài liệu, chứng cứ
mới, đã được HĐXX tranh tụng, thẩm vấn công khai tại phiên tòa nên được
chấp nhận để xem xét theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị Bùi
Trung Đ, Lê Thị Trung Á, Thái Văn Thiên B, Phạm Đức H, Hoàng Thị Mỹ H1,
Hồ Ngọc N, Đoàn Hữu N1, Cao Thị Diệu S, Bùi Ngọc T, Mai Kim N2, Nguyễn
Thị Diệu H2, Lê Thị Mỹ H3, Trần Minh C, Thái Anh Đ1, Bùi Duy H4, Phạm
Anh L, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Nguyễn Văn L1 đều với nội dung xin
giảm nhẹ hình phạt; nội dung áp dụng hình phạt bổ sung, truy thu số tiền thu lời
bất chính đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Trung Đ, Bùi Duy H4, Đoàn Hữu
N1, Nguyễn Văn L1, Phạm Anh L lúc đầu cho rằng khi vào làm việc tại Công ty
U không biết Công ty có hoạt động phạm pháp và không biết Công ty có kinh
doanh chứng khoán trên sàn giao dịch quốc tế mà sau này khi bị bắt, làm việc
với Cơ quan điều tra mới biết và nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
Sau khi Hội đồng xét xử xét hỏi và công bố lời khai của các bị cáo tại quá trình
điều tra, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Thái
Anh Đ1, Lê Thị Trung Á, Bùi Ngọc T, Mai Kim N2, Trần Minh C, Trần Vũ
Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Hoàng Thị Mỹ H1, Hồ Ngọc N, Lê Thị Mỹ H3,
Nguyễn Thị Diệu H2, Cao Thị Diệu S, Thái Văn Thiên B và Phan Đức H5 đều
tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xác
định, không oan. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của bị hại,
người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng
10/2022 đến tháng 05/2023, các bị cáo Bùi Trung Đ, T1, Anh Đ1, Lê Thị Trung
Á, Bùi Ngọc T, Mai Kim N2, Trần Minh C, Bùi Duy H4, Đoàn Hữu N1,
Nguyễn Văn L1, Phạm Anh L, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Hồ Ngọc N,
Lê Thị Mỹ H3, Nguyễn Thị Diệu H2, Cao Thị Diệu S, Thái Văn Thiên B, Phan
Đức H5 và Hoàng Thị Mỹ H1 cùng các đối tượng (hiện chưa xác định được) đã
cấu kết với nhau thành lập và duy trì hoạt động các Công ty “ma” và sử dụng
danh nghĩa của các Công ty đó để tuyển dụng các nhân viên làm việc tại các bộ
phận (Kế toán, Nhân sự, Bộ phận IT, Bộ phận kinh doanh và chăm sóc khách
hàng), thực hiện các hoạt động độc lập, bổ trợ lẫn nhau để thực hiện hành vi
phạm tội. Mặc dù không được cấp giấy phép nhưng các bị cáo vẫn điều hành
nhân viên hoạt động trong lĩnh vực tư vấn chứng khoán, tài chính nhằm mục
đích lôi kéo khách hàng tham gia đầu tư để chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn hoạt
-- 37 of 56 --
38
động phạm tội: Các đối tượng tạo lập, quản lý các trang web như Zeno Markets,
L2, CHMarkets, TradeTime, LPLtrade, DexInvesting để mọi người hiểu nhầm là
tham gia đầu tư chứng khoán quốc tế. Các trang web trên về bản chất đều đã
được lập trình sẵn, không có tính năng đối ứng ra thị trường thế giới, mỗi sàn
giao dịch đều được kết nối với ứng dụng MetaTrader (MT4, MT5). Tiền của
khách hàng nạp vào nằm ở trong các tài khoản do các đối tượng đăng ký mở tại
các ngân hàng dưới tên của các Công ty. Khách hàng chơi forex trên trang web
trên thực chất là chơi với chủ sàn (A1), khi khách hàng thua là chủ sàn được
hưởng tiền đó. Trong đó, bộ phận kinh doanh và chăm sóc khách hàng (S1)
được tuyển dụng và đào tạo về quy trình đã được lập sẵn để dụ dỗ bị hại tham
gia thông qua mạng xã hội, qua việc trực tiếp gọi điện thoại, nhắn tin, sau đó
đưa ra các thông tin sai sự thật nhằm tạo sự tin tưởng để bị hại chuyển tiền vào
tài khoản ngân hàng gắn với sàn giao dịch do các đối tượng quản lý. Ban đầu,
khách hàng sẽ được thắng vài lệnh, với số tiền nhỏ và có thể rút được về tài
khoản. Tuy nhiên, nhân viên sẽ tiếp tục chăm sóc khách hàng, dụ dỗ để khách
nạp tiền cho đến khi hết khả năng tài chính thì bị thua hết tiền, nhân viên S1 tiếp
tục đưa ra các thông tin để khách hàng nghĩ việc thua là do yếu tố khách quan,
nhưng về bản chất dòng tiền của khách hàng không được sử dụng để cho khách
hàng tham gia chơi forex. Với thủ đoạn trên, các bị cáo đã lừa đảo chiếm đoạt
của 12 bị hại tổng số tiền là 11.125.793.906 đồng. Trong đó, chiếm đoạt của chị
Lê Thị Anh T2 số tiền 6.770.184.271 đồng; chiếm đoạt của chị Trần Thị Thùy
L3 3.231.691.339 đồng; chiếm đoạt của anh Nguyễn Việt H6 25.000.000 đồng;
chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hương D 135.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh
Nguyễn Đức A 243.347.200 đồng; chiếm đoạt của anh Lê Văn H7 143.432.442
đồng; chiếm đoạt của chị Vũ Thị Thu H8 299.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh
Trịnh Văn T3 24.733.100 đồng; chiếm đoạt của chị Vũ Thị Hải N3 24.000.000
đồng; chiếm đoạt của anh Nguyễn Hoài N4 191.850.000 đồng; chiếm đoạt của
chị Phạm Thị Hải M 24.868.686 đồng và chiếm đoạt của anh Trần Đình T4 số
tiền 12.686.868 đồng. Trong đó:
- Bùi Trung Đ làm việc từ năm 2020 với nhiệm vụ quản lý chung. Đ được
hưởng 1.350.000.000 đồng, gồm tiền lương từ tháng 07/2022 đến khi bị bắt giữ
là 700.000.000 đồng và tiền thưởng là 650.000.000 đồng;
- Thái Anh Đ1 làm việc từ cuối năm 2019 đến đầu năm 2022 được giao
làm tổng quản lý tại Văn phòng số 188, đường N, được hưởng 100.000.000
đồng tiền lương.
- Lê Thị Trung Á làm việc từ tháng 05/2019, được giao nhiệm vụ tuyển
dụng nhân viên, đến tháng 03/2022, được hưởng 1.000.000.000 đồng tiền lương.
- Bùi Ngọc T làm việc tháng 07/2020, T được giao nhiệm vụ làm tại bộ
phận pháp lý của công ty, được hưởng 244.000.000 đồng tiền lương.
-- 38 of 56 --
39
- Mai Kim N2 làm việc từ tháng 11/2021, được giao nhiệm vụ quản lý
trang thiết bị tại văn phòng, chấm công cho nhân viên và được hưởng
175.000.000 đồng tiền lương.
- Trần Minh C làm việc từ tháng 04/2021 với nhiệm vụ chấm công nhân
viên, thanh toán tiền lương và các chi phí khác, được hưởng 696.000.000 đồng
tiền lương.
- Bùi Duy H4 làm việc từ cuối năm 2020 tại bộ, lắp đặt mạng internet và
thiết bị VPN để thay đổi địa chỉ IP, được hưởng 250.000.000 đồng tiền lương.
- Đoàn Hữu N1 làm việc từ tháng 11/2020 tại bộ phận kỹ thuật IT, trực tiếp
cài đặt phần mềm Zoiper để nhân viên chăm sóc khách hàng gọi điện thoại cho
các bị hại, được hưởng 330.000.000 đồng tiền lương.
- Nguyễn Văn L1 làm việc từ tháng 02/2022, tham gia dụ dỗ các bị hại là
bà Lê Thị Anh T2 và anh Nguyễn Việt H6, được hưởng 250.000.000 đồng tiền
lương.
- Phạm Anh L làm việc từ tháng 09/2022, tham gia dụ dỗ các bị hại là bà
Lê Thị Anh T2 và chị Trần Thị Thùy L3, được hưởng 140.000.000 đồng tiền
lương.
- Trần Vũ Trọng Đ2 làm việc từ tháng 10/2021, tham gia dụ dỗ các bị hại là
ông Lê Văn H7 và chị Vũ Thị H8, được hưởng lương 52.000.000 đồng.
- Đinh Văn C1 làm việc từ tháng 02/2023, tham gia dụ dỗ các bị hại là chị
Vũ Thị Hải N3 và anh Vũ Đình T5, được hưởng lương 50.000.000 đồng.
- Hồ Ngọc N làm việc từ tháng 01/2023, tham gia dụ dỗ các bị hại là anh
Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Hương D, được hưởng lương 34.000.000
đồng.
- Lê Thị Mỹ H3 làm việc từ tháng 01/2023, tham gia dụ dỗ các bị hại là
ông Nguyễn Hoài N4 và bà Phạm Thị Hải M, được hưởng lương 35.000.000
đồng.
- Nguyễn Thị Diệu H2 làm việc từ tháng 05/2022, tham gia dụ dỗ bị hại là
ông Lê Văn H7 và được hưởng lương 120.000.000 đồng.
- Cao Thị Diệu S làm việc từ tháng 11/2022, tham gia dụ dỗ bị hại là anh
Trịnh Văn T3 và được hưởng lương 42.000.000 đồng.
- Hoàng Thị Mỹ H1 làm việc từ tháng 02/2023, tham gia dụ dỗ các bị hại
bà Nguyễn Thị Hương D và anh Nguyễn Đức A, được hưởng lương 28.000.000
đồng.
- Phan Đức H5 làm việc từ tháng 02/2023, giúp sức trong việc thực hiện
hành vi chiếm đoạt 21.000.000 đồng của chị Vũ Thị Hải N3. Từ khi vào làm
việc, H5 đã nhận được tổng cộng 21.000.000 đồng, gồm 14.000.000 đồng tiền
lương và 7.000.000 đồng tiền thưởng.
-- 39 of 56 --
40
- Thái Văn Thiên B làm việc từ đầu tháng 4/2023, giúp sức trong việc thực
hiện hành vi chiếm đoạt 24.868.686 đồng của chị Phạm Thị Hải M. Từ khi làm
việc B chỉ được Công ty cho ăn bữa trưa, chưa nhận được tiền lương do ngày
20/5/2023 bị Cơ quan điều tra đã phát hiện và bắt giữ.
Với hành vi phạm tội nên trên, các bị cáo Bùi Trung Đ, Thái Anh Đ1, Lê
Thị Trung Á, Bùi Ngọc T, Mai Kim N2, Trần Minh C, Bùi Duy H4, Đoàn Hữu
N1, Nguyễn Văn L1, Phạm Anh L, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Hoàng
Thị Mỹ H1, Hồ Ngọc N, Lê Thị Mỹ H3, Nguyễn Thị Diệu H2, Cao Thị Diệu S,
Thái Văn Thiên B và Phan Đức H5 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị
cáo với tội danh và điều khoản luật nêu trên là có căn cứ, đúng qui định pháp
luật, không oan sai.
[2.1]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo:
Tại bản án sơ thẩm đã xác định “Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho
xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp
luật bảo vệ, gây thiệt hại lớn về tài sản cho các bị hại. Các bị cáo phạm tội với
lỗi cố ý, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Để thực hiện tội phạm, các bị
cáo đã có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công, phân nhiệm nhiệm vụ
của từng nhóm, khi nhận nhiệm vụ và thông tin từ S (Mai Thị Xuân C) chuyển
đến, các bị cáo tiếp nhận ý chí và trưởng mỗi nhóm lại phân công công việc cụ
thể cho các thành viên trong nhóm. Tội phạm do các bị cáo được thực hiện trên
không gian mạng, tiếp xúc và lan tỏa đến nhiều người, các bị cáo có sự cấu kết
với tội phạm ngoài lãnh thổ Việt Nam. Các bị cáo là nhân viên IT quản lý, lắp
đặt, sử dụng hàng ngàn số điện thoại và thay đổi mật khẩu IP liên tục, thường
xuyên thay đổi địa điểm làm việc, các nhân viên làm việc không để lộ danh tính
thật, không được gọi điện thoại videocall với khách, không được ra khỏi văn
phòng khi đang làm việc khi không thật sự cần thiết để tránh sự phát hiện của
các cơ quan chức năng. Hành vi do các bị cáo thực hiện là hết sức tinh vi, để che
giấu hành vi của mình, các bị cáo khi thực hiện đều mang tên giả, giấu thân
phận, không tiếp xúc trực tiếp với người bị hại, thực hiện hành vi trên kịch bản
có sẵn, thường xuyên thay đổi xe và sử dụng xe sang để đánh bóng tên tuổi (Bùi
Trung Đ). Hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, đã
xâm hại đến tài sản được xác định là rất lớn của người khác được pháp luật bảo
vệ. Hành vi của các bị cáo còn gây nhức nhối trong xã hội, gây bất bình trong
quần chúng nhân dân và đáng bị lên án.” Và “Các bị cáo đã lợi dụng tâm lý đánh
vào lòng tham của người bị hại để đưa ra thông tin không có thật, làm bị hại tin
tưởng muốn làm việc nhẹ nhàng nhưng được hưởng lợi nhuận cao”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Mai Kim N, Trần Minh C1,
Đoàn Hữu N1, Lê Thị Trung Á, Bùi Duy H, Bùi Ngọc T nhận thấy việc làm việc
tại T5 nhưng không ký hợp đồng lao động, sử dụng tên giả để liên hệ với các
nhân viên trong công ty. Công ty được chia thành 05 bộ phận thực hiện các hoạt
động độc lập, bổ trợ lẫn nhau để thực hiện hành vi phạm tội, trong đó các nhân
-- 40 of 56 --
41
viên thuộc bộ phận kinh doanh, chăm sóc khách hàng (khi vào làm việc được
đào tạo theo kịch bản có sẵn để dụ dỗ khách hàng nạp tiền, tham gia chơi chứng
khoán) giữ vai trò là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của Bùi Trung Đ, Thái Anh Đ1, Mai Kim N, Trần Minh C1, Đoàn
Hữu N1, Lê Thị Trung Á, Bùi Duy H, Bùi Ngọc T đều đồng phạm về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, trong
đó vai trò của Bùi Trung Đ là người tổ chức; Thái Anh Đ1, Mai K, Trần Minh
C1, Đoàn Hữu N1, Lê Thị Trung Á, Bùi Duy H, Bùi Ngọc T với vai trò là người
giúp sức tích cực.
Đối với các bị cáo trong bộ phận chăm sóc khách hàng: Nguyễn Văn L,
Phạm Anh L1, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C2, Hồ Ngọc N2, Lê Thị Mỹ H1,
Nguyễn Thị Diệu H2, Cao Thị Diệu S, Hoàng Thị Mỹ H3, Phan Đức H4, Thái
Văn Thiên B: Các bị cáo đều được bộ phận nhân sự tuyển dụng dưới danh nghĩa
của nhiều Công ty khác nhau, với yêu cầu không cần bằng cấp hay được đào tạo
gì về chứng khoán, cổ phiếu. Khi vào làm việc không được ký Hợp đồng lao
động, không được đóng bảo hiểm, được cấp cho sử dụng 01 máy tính, 01 điện
thoại, thực hiện nội quy để đảm bảo không bị cơ quan Công an phát hiện (sử
dụng tên giả, liên lạc với nhau qua tài khoản mạng xã hội có tính bảo mật cao
như T1, S1; không gọi điện videocall cho khách hàng, không chia sẻ vị trí cũng
như địa chỉ văn phòng làm việc). Các đối tượng này đều được đào tạo theo kịch
bản có sẵn do trực tiếp các Leader, Tổng Quản lý hoặc nhân viên vào làm trước
phổ biến bằng miệng, giao cho quy trình đào tạo bằng giấy hoặc tham gia các
buổi hội thảo do Bùi Trung Đ tổ chức, phổ biến với mục đích để dụ dỗ khách
hàng đồng ý tham gia và chuyển tiền vào tài khoản của công ty gắn với sàn giao
dịch. Những thông tin giả mà các đối tượng đưa ra để người bị hại tin tưởng
chuyển tiền như: Sử dụng tên giả, giới thiệu là nhân viên chăm sóc khách hàng
của sàn chứng khoán có địa chỉ tại Việt Nam, đưa ra các chương trình ưu đãi
nếu khách hàng nạp tiền (tặng Bonus, miễn phí tài khoản qua đêm...). Tạo lòng
tin đối với khách như: Những lệnh đầu tiên, nhân viên tư vấn sẽ lựa chọn những
mã nào có lời và tập trung vào mã đó để khách hàng thích thú, đam mê thị
trường, thông thường sẽ cho chốt ít và làm nhiều lần để khách liên tục giao dịch.
Sau đó, cho khách hàng rút tiền để khách thấy sàn có tính thanh khoản nhanh tạo
niềm tin cho khách đầu tư số tiền lớn hơn. Khi khách bắt đầu đam mê một mã sẽ
nâng dần khối lượng, chụp những tài khoản giao dịch lớn chốt lãi cao để khách
tiếc, đưa ra thông tin mã này sẽ có tin tăng hoặc giảm mạnh để khách nâng vốn
lên bắt xu hướng, giả vờ tham gia góp vốn với khách, dùng group, “chân gỗ”
tương tác để truyền cảm hứng, sử dụng tài khoản khác giả là “chuyên gia” có
kinh nghiệm xử lý hoặc bán cho “RET” (bộ phận tư vấn) của sàn khác tâm sự để
ổn định tâm lý. Bản thân các nhân viên đều nhận thức được hành vi trên là vi
phạm pháp luật nhưng do không có nghề nghiệp nên vẫn đồng ý thực hiện. Hàng
tháng đều được trả lương, tiền thưởng theo số tiền khách nạp. Do vậy, các bị cáo
đều phải chịu trách nhiệm chung đối với số tiền của bị hại bị chiếm đoạt đã làm
-- 41 of 56 --
42
rõ được trong thời gian mà đối tượng đó làm việc…” là hoàn toàn chính xác. Từ
đó đã đánh giá vai trò của từng bị cáo:
- “Đối với bị cáo Bùi Trung Đ: Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, giữ vai
trò quản lý chung, trực tiếp chỉ đạo các bị cáo khác trong vụ án. Bùi Trung Đ
làm việc từ năm 2020, Đ được hưởng 1.350.000.000 đồng, gồm tiền lương từ
tháng 07/2022 đến khi bị bắt giữ là 700.000.000 đồng và tiền thưởng là
650.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Thái Anh Đ1: Bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án, trực
tiếp quản lý văn phòng và chỉ đạo các bị cáo khác trong vụ án. Thái Anh Đ1 làm
việc từ cuối năm 2019 đến đầu năm 2022 được giao làm Tổng Quản lý tại Văn
phòng số 188, đường N, được hưởng 100.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Lê Thị Trung Á: Bị cáo giữ vai trò giúp sức tích cực trong
vụ án. Lê Thị Trung Á làm việc từ tháng 05/2019, được giao nhiệm vụ tuyển
dụng nhân viên, đến tháng 03/2022, được hưởng 1.000.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Bùi Ngọc T: Bị cáo giữ vai trò thứ tư trong vụ án, Bùi
Ngọc T làm việc tháng 07/2020, T được giao nhiệm vụ làm tại bộ phận pháp lý
của công ty, được hưởng 244.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Mai Kim N: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức trong vụ
án, Mai Kim N làm việc từ tháng 11/2021, được giao nhiệm vụ quản lý trang
thiết bị tại văn phòng, chấm công cho nhân viên và được hưởng 175.000.000
đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Trần Minh C1: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức trong
vụ án, Trần Minh C1 làm việc từ tháng 04/2021 với nhiệm vụ chấm công nhân
viên, thanh toán tiền lương và các chi phí khác, được hưởng 696.000.000 đồng
tiền lương.
- Đối với bị cáo Bùi Duy H: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức trong vụ
án, Bùi Duy H làm việc từ cuối năm 2020 tại bộ, lắp đặt internet và thiết bị VPN
để thay đổi địa chỉ IP, được hưởng 250.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Đoàn Hữu N1: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức trong
vụ án, Đoàn Hữu N1 làm việc từ tháng 11/2020 tại phận kỹ thuật IT, trực tiếp
cài đặt phần mềm Zoiper để nhân viên chăm sóc khách hàng gọi điện thoại cho
các bị hại, được hưởng 330.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Nguyễn Văn L làm việc từ tháng 02/2022, tham
gia dụ dỗ các bị hại là bà Lê Thị Anh T2 và anh Nguyễn Việt H5, được hưởng
250.000.000 đồng tiền lương.
- Đối với bị cáo Phạm Anh L1: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Phạm Anh L1 làm việc từ tháng 09/2022, tham gia
dụ dỗ các bị hại là bà Lê Thị Anh T2 và chị Trần Thị Thùy L2, được hưởng
140.000.000 đồng tiền lương.
-- 42 of 56 --
43
- Đối với bị cáo Trần Vũ Trọng Đ2: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và
là người thực hành trong vụ án, Trần Vũ Trọng Đ2 làm việc từ tháng 10/2021,
tham gia dụ dỗ các bị hại là ông Lê Văn H6 và chị Vũ Thị Thu H7, được hưởng
lương 52.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Đinh Văn C2: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Đinh Văn C2 làm việc từ tháng 02/2023, tham gia
dụ dỗ các bị hại là chị Vũ Thị Hải N3 và anh Trần Đình T3, được hưởng lương
50.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Hồ Ngọc N2: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Hồ Ngọc N2 làm việc từ tháng 01/2023, tham gia
dụ dỗ các bị hại là anh Nguyễn Đức A và bà Nguyễn Thị Hương D, được hưởng
lương 34.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Lê Thị Mỹ H1: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Lê Thị Mỹ H1 làm việc từ tháng 01/2023, tham gia
dụ dỗ các bị hại là ông Nguyễn Hoài N4 và bà Phạm Thị Hải M, được hưởng
lương 35.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Diệu H2: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức
và là người thực hành trong vụ án, Nguyễn Thị Diệu H2 làm việc từ tháng
05/2022, tham gia dụ dỗ bị hại là ông Lê Văn H6 và được hưởng lương
120.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Cao Thị Diệu S: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Cao Thị Diệu S làm việc từ tháng 11/2022, tham
gia dụ dỗ bị hại là anh Trịnh Văn T4 và được hưởng lương 42.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Hoàng Thị Mỹ H3: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và
là người thực hành trong vụ án, Hoàng Thị Mỹ H3 làm việc từ tháng 02/2023,
tham gia dụ dỗ các bị hại bà Nguyễn Thị Hương D và anh Nguyễn Đức A, được
hưởng lương 28.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Phan Đức H4: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và là
người thực hành trong vụ án, Phan Đức H4 làm việc từ tháng 02/2023, giúp sức
trong việc thực hiện hành vi chiếm đoạt 21.000.000 đồng của chị Vũ Thị Hải
N3. Từ khi vào làm việc, H4 đã nhận được tổng cộng 21.000.000 đồng, gồm
14.000.000 đồng tiền lương và 7.000.000 đồng tiền thưởng.
- Đối với bị cáo Thái Văn Thiên B: Bị cáo là người đồng phạm giúp sức và
thực hành trong vụ án, Thái Văn Thiên B làm việc từ đầu tháng 4/2023, giúp sức
trong việc thực hiện hành vi chiếm đoạt 24.868.686 đồng của chị Phạm Thị Hải
M. Từ khi làm việc, B chỉ được công ty cho ăn bữa trưa, chưa nhận được tiền
lương do ngày 20/5/2023 bị Cơ quan điều tra đã phát hiện và bắt giữ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung tăng
nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm a
khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
-- 43 of 56 --
44
Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo tương ứng
với mức hình phạt, tội danh, điểm, khoản, điều luật như bản án sơ thẩm đã xác
định là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo chỉ còn giữ nội dung kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt và đều cung cấp thêm nhiều tình tiết mới. Cụ thể:
Bị cáo Hồ Ngọc N cung cấp tài liệu nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000
đồng tại Biên lai số 0006471 ngày 11/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố
Hà Nội; bị cáo tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo và đồng bào bão lụt số tiền
03 triệu đồng;
Bị cáo Đoàn Hữu N1 cung cấp tài liệu về việc gia đình bị cáo ủng hộ các
nhu yếu phẩm trong giai đoạn C; ủng hộ bão lụt tiền và hiện vật tại địa phương
(có xác nhận của chính quyền địa phương); đã nộp án phí dân sự sơ thẩm là
23.494.668 đồng tại Biên lai số 0007067 ngày 23/12/2025 và tiền thu lời bất
chính, án phí hình sự sơ thẩm là 330.200.000 đồng tại Biên lai số 0006469 ngày
11/12/2025 đều của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Thái Văn Thiên B cung cấp tài liệu đã nộp án phí hình sự sơ thẩm
200.000 đồng tại Biên lai số 0005439 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự
thành phố Hà Nội; tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo phường T, Đà Nẵng số
tiền 1.000.000 đồng; có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo của bị hại Phạm Thị Hải M
vì đã khắc phục thiệt hại toàn bộ 24.868.686 đồng;
Bị cáo Hoàng Thị Mỹ H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Nguyễn
Thị Hương D đề ngày 22/01/2026 dung gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền
70.000.000 đồng thay bị cáo; nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên
lai số 0006472 ngày 11/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; Thư
cảm ơn của M phường H, Thành phố Hồ Chí Minh đã ủng hộ 1.200.000 đồng và
vật chất khắc phục thiệt hại do bão lũ ngày 23/12/2025; xuất trình nhiều tài liệu
thể hiện có người thân tham gia Cách mạng: Ông nội là Hoàng Văn C1 là
Thương binh hạng 3, tỷ lệ 42% (được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận), được
tặng thưởng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và nhiều Huân huy chương; bà ngoại là
Nguyễn Thị M1 tham gia dân công hỏa tuyến; bố bị cáo là ông Hoàng Văn M2
có thời gian công tác trong quân đội, được tặng thưởng Huy chương C2 vẻ vang
hạng và hạng Huy chương kỳ quyết thắng; bác ruột là Liệt Đoàn Sỹ T…;
Bị cáo Bùi Duy Hoàng cung C3 tài liệu mới ông ngoại là Nguyễn Văn H1
được tặng Huy chương chiến hạng ông nội là Bùi Văn T1 được tặng Huân
chương chiến hạng có nhân thân là Liệt Nguyễn Thị D; đơn xác nhận của
chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn mẹ già, bố mất sớm, vợ
không có công ăn việc làm ổn định, là lao động chính đang nuôi con nhỏ; nộp
tiền thu lời bất chính 250.000.000 đồng tại Biên lai số 0006465 ngày
11/12/2025; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Biên lai số 0006107 ngày
-- 44 of 56 --
45
04/12/2025 và án phí dân sự sơ thẩm là 30.694.668 đồng tại Biên lai số 0007073
ngày 23/12/2025, đều của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Trần Vũ Trọng Đ cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại
chị Vũ Thị Thu H2 đề ngày 28/01/2026 vì đã có thái độ hợp tác, thực hiện nghĩa
vụ bồi thường theo bản án sơ thẩm; đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng
tại Biên lai số 0006493 ngày 12/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà
Nội; Thư cảm ơn của Bệnh viện Ung bướu Thành phố H và ủng hộ đồng bào
bão lụt tổng số tiền 4.000.000 đồng.
Bị cáo Đinh Văn C4 cung cấp tài liệu nộp tiền hưởng lợi bất chính và án
phí là 14.610.000 đồng tại Biên lai số 0006495 ngày 12/12/2025 của Thi hành
án dân sự thành phố Hà Nội; có thân nhân là ông Đinh Thế Y được Chủ tịch
UBND tỉnh T tặng Bằng khen; bố là Đinh Văn X được tặng thưởng Huân
chương chiến hạng Nhất; tham gia ủng hộ đồng bào bão lụt số tiền 1.000.000
đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn L cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của ông
Nguyễn Văn T2 là bố đẻ (có xác nhận của chính quyền địa phương); đã nộp tiền
thu lời bất chính và án phí hình sự sơ thẩm là 250.200.000 đồng tại Biên lai số
0006467 ngày 11/12/2025 và tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.850.920 đồng tại
Biên lai số 0007066 ngày 23/12/2025, đều của Thi hành án dân sự thành phố Hà
Nội.
Bị cáo Phan Đức H3 cung cấp đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo của bị hại Trần
Đình T3 và Vũ Thị Hải N2; đơn trình bày hoàn cảnh gia khó khăn, bố mẹ già
yếu, bố bị bệnh nặng thoát vị đĩa đệm không có khả năng lao động, mẹ bị bệnh
ung thư, có giấy xác nhận là người khuyết tật nặng, bị cáo có con nhỏ mới 01
tuổi; là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa
phương); có bác ruột là Liệt sĩ Phan Xuân Đ1; ông ngoại Vương Hải H4 được
tặng thưởng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; anh ruột của ông ngoại là Liệt sĩ
Vương Ngọc O, bố bị cáo tham gia thanh niên xung phong Thạch Hãn, tỉnh
Quảng Trị; đã nộp tiền án phí dân sự, hình sự sơ thẩm, tiền thu lời bất chính và
tiền bồi thường là 24.167.700 đồng tại Biên lai số 0006108 ngày 04/12/2025 của
Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Bùi Trung Đ2 cung cấp tài liệu mới về việc bị cáo tích cực tham gia,
hỗ trợ công tác ủng hộ chống dịch C tại địa bàn các phường A, phường A (có
xác nhận của chính quyền địa phương) và nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự
sơ thẩm tại Biên lai số 0005439 ngày 20/11/2025 của Thi hành án dân sự thành
phố Hà Nội; bị cáo cứu người đuối nước là anh Nguyễn Tư T4, sinh năm 1993,
có xác nhận của anh Nguyễn Tư T4, những người liên quan và của UBND xã T,
huyện L, tỉnh Quảng Bình ngày 10/01/2025; ông nội của bị cáo được tặng Huân
chương chiến hạng Nhì; Thư cảm ơn của UBND xã H, huyện L, tỉnh Quảng
Bình về việc năm 2020 bị cáo đã trao 200 suất quà trị giá 100.000.000 đồng ủng
hộ người dân bị lũ lụt trên địa bàn xã; có đơn của bị hại Lê Thị Anh T5 xin giảm
-- 45 of 56 --
46
nhẹ hình phạt cho Bùi Trung Đ2 và Thái Anh Đ3 vì gia đình các bị cáo đã bồi
thường đủ số tiền 3,8 tỷ đồng.
Bị cáo Cao Thị Diệu S cung cấp tài liệu mới về việc nộp 20.300.000 đồng
tiền thu lời bất chính và án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0006496 ngày
12/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Bùi Ngọc T6 cung cấp tài liệu mới: Thư cảm ơn của Mặt trận quốc
xã T, tỉnh Tây Ninh vì đã tham gia ủng hộ 5.000.000 đồng chăm lo, hỗ trợ quà
tết cho các hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã ngày 30/12/2025; quá trình học
tập được tặng Giấy khen; đã nộp tiền thu lời bất chính và án phí hình sự sơ thẩm
là 244.200.000 đồng tại Biên lai số 0006466 ngày 11/12/2025 và tiền án phí dân
sự sơ thẩm là 29.894.668 đồng tại Biên lai số 0007065 ngày 23/12/2025, đều
của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Mai Kim N3 cung cấp tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có nhân thân
tham gia Cách mạng: Ông nội là Mai Văn S1 được tặng Kỷ niệm chương chiến
Cách mạng bị địch bắt tù đày, có ông ngoại và bà ngoại được tặng Huân chương
chiến hạng Ba; cụ ngoại là Bà mẹ Việt Nam Anh H5; đã nộp tiền thu lời bất
chính và án phí hình sự sơ thẩm là 175.200.000 đồng tại Biên lai số 0006468
ngày 11/12/2025 và án phí dân sự sơ thẩm là 30.694.668 đồng tại Biên lai số
0007062 ngày 23/12/2025, đều của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Lê Thị Mỹ Hậu cung C5 tài liệu mới về việc mẹ bị cáo là bà Thái
Thị N4 được tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND và Tỉnh Ủy tỉnh K và Giấy
khen của Giám đốc Công an tỉnh K; Giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Đ,
tỉnh Kon Tum (có xác nhận của chính quyền địa phương); Phiếu thu thể hiện bị
cáo H6 tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, ủng hộ bão lụt tại địa phương; đã
nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Biên lai số 0006470 ngày
11/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Trần Minh C6 cung cấp tài liệu về việc đã nộp số tiền 696.000.000
đồng tiền thu lời bất chính, 29.494.668 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và
200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tổng cộng: 725.694.668 đồng tại
Biên lai số 0007068 ngày 23/12/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Bị cáo Thái Anh Đ3 cung cấp tài liệu mới là Giấy cảm tạ của UBND
phường T, tỉnh Cần Thơ vì đã tham gia ủng hộ an sinh xã hội năm 2026; đã nộp
án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Biên lai số 0005440 ngày 20/11/2025
của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
Bị cáo Lê Thị Trung Á cung cấp tài liệu đã nộp án phí dân sự sơ thẩm là
30.694.668 đồng tại Biên lai số 0007064 ngày 23/12/2025; tiền thu lời bất chính
và án phí hình sự sơ thẩm là 1.000.202.000 đồng tại Biên lai số 0006486 ngày
11/12/2025, đều của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Như vậy, có căn cứ xác định các bị cáo đã nộp đầy đủ các khoản tiền thu
lời bất chính, tiền án phí dân sự sơ thẩm, tiền án phí hình sự sơ thẩm. Điều này
thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo thông qua việc tác động gia
-- 46 of 56 --
47
đình thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quyết định của bản án sơ thẩm, tại nhiều
biên lai thể hiện do mẹ đẻ của bị cáo Thái Anh Đ3 nộp thay; hoặc thông qua bị
cáo Lê Thị Trung Á thực hiện thay hoặc thông qua người bào chữa cho các bị
cáo nộp thay. Mặt khác, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thực chất là làm
thuê cho Công ty lừa đảo đặt tại nước ngoài, trong đó chỉ có bị cáo Bùi Trung
Đ2 là được tiếp xúc và phân công, hướng dẫn các bị cáo còn lại phạm tội và tất
cả các bị cáo đều chỉ được hưởng lương thông qua tài khoản mở bởi các Công ty
không có thật như tại bản án sơ thẩm đã xác định.
Vì vậy HĐXX thấy cần áp dụng các tình tiết mới này để xem xét khi quyết
định hình phạt đối với các bị cáo; có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giảm cho mỗi
bị cáo một phần hình phạt như quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát
xét xử phúc thẩm tại phiên tòa; quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị
cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của đại diện Viện Công tố và của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3.2] Về phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho những người bị hại: Tại
các đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo của những người bị hại, cụ
thể:
Vào các ngày 15/11/2025 và 31/12/2025, chị Trần Thị Thùy L1 là người bị
hại trong vụ án có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Bùi Trung Đ2,
Thái Anh Đ3, Phạm Anh L2, Nguyễn Văn L, Đoàn Hữu N1, Bùi Duy H7 và
Trần Minh C6 với các lý do: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự,
phạm tội lần đầu; các bị cáo tuổi đời còn trẻ, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội; nhiều bị cáo là lao động chính; con nhỏ, cha mẹ già yếu; một số gia đình các
bị cáo có người thân có công Cách mạng; trong quá trình các bị cáo bị tạm giam
đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền do các bị cáo chiếm đọat là
3.231.692.000 đồng.
Vào các ngày 12/12/2025 và 31/12/2025 chị Lê Thị Anh T5 là người bị hại
trong vụ án có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Bùi Trung Đ2, Thái Anh
Đ3, Lê Thị Trung Á, Bùi Ngọc T6, Mai Kim N3 và các bị cáo liên quan đã khắc
phục toàn bộ số tiền 6,8 tỷ đồng do các bị cáo trong vụ án chiếm đoạt.
Ngày 20/01/2026 và ngày 26/01/2025, các bị hại anh Trần Đình T3 và chị
Vũ Thị Hải N2 đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Phan Đức H3
và Đinh Văn C4, vì đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền 12.686.868
đồng do các bị cáo trong vụ án chiếm đoạt; gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó
khăn, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt; tuổi trẻ bồng bột nên mắc sai lầm.
Như vậy có đủ căn cứ xác định toàn bộ số tiền do các bị cáo chiếm đoạt
trong vụ án này đều đã được gia đình các bị cáo bồi thường, khắc phục cơ bản
hết cho những người bị hại. Đối với các khoản tiền mà tại bản án sơ thẩm đã
truy thu đối với từng bị cáo thì về cơ bản các bị cáo cũng đã thực hiện đầy đủ
như tại bản án sơ thẩm đã xác định. Đây là tình tiết mới đáng kể tại phiên tòa
phúc thẩm được áp dụng đối với tất cả các bị cáo trong vụ án theo điểm b khoản
-- 47 of 56 --
48
1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; trừ bị cáo Bùi Trung Đ2 thì tất cả các bị cáo còn lại
đều được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[3.3] Đối với nội dung khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội
đồng xét xử không xét.
[4] Về án phí phúc thẩm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân
hàng TMCP Đ3 đã rút kháng cáo và các bị cáo có kháng cáo được chấp nhận
nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên
Căn cứ Điều 348, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Đ3. Các quyết định của Bản án hình sự
sơ thẩm số 686/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội liên quan đến Ngân hàng cổ phần Đ3 có hiệu lực pháp luật kể
từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm (ngày 06/02/2026).
2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Trung Đ, Thái Anh Đ1, Lê Thị
Trung Á, Bùi Ngọc T, Mai Kim N4, Trần Minh C, Bùi Duy H, Đoàn Hữu N,
Nguyễn Văn L, Phạm Anh L1, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Hoàng Thị Mỹ
H1, Hồ Ngọc N1, Lê Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Diệu H3, Cao Thị Diệu S, Thái
Văn Thiên B và Phan Đức H4; Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ
thẩm số 686/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo nêu trên, cụ thể:
Tuyên bố các bị cáo: Bùi Trung Đ, Thái Anh Đ1, Lê Thị Trung Á, Bùi
Ngọc T, Mai Kim N4, Trần Minh C, Bùi Duy H, Đoàn Hữu N, Nguyễn Văn L,
Phạm Anh L1, Trần Vũ Trọng Đ2, Đinh Văn C1, Hoàng Thị Mỹ H1, Hồ Ngọc
N1, Lê Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Diệu H3, Cao Thị Diệu S, Thái Văn Thiên B và
Phan Đức H4 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
* Về hình phạt:
1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bùi Trung Đ: 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2023.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Thái Anh Đ1: 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 24/5/2023.
-- 48 of 56 --
49
3. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Lê Thị Trung Á: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Bùi Ngọc T: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 09/01/2025.
5. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm a, g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Mai K: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày 02/6/2023.
6. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Trần Minh C: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 02/6/2023.
7. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm ag khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Bùi Duy H: 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 20/8/2024.
8. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Đoàn Hữu N: 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 02/6/2023.
9. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Nguyễn Văn L: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2023.
10. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm ag khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
-- 49 of 56 --
50
Phạm Anh L1: 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 24/5/2023.
11. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Trần Vũ Trọng Đ2: 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 03/6/2023.
12. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử
phạt:
Đinh Văn C1: 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 09/01/2025.
13. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;