CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số: 345/2026/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 3 năm 2026, giữa các
2
Ngày 30/7/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 được đổi tên từ Ngân
hàng TMCP B (gọi tắt là L2) với bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã giao
kết hợp đồng vay theo hợp đồng tín dụng số HDTD882202000305 cụ thể: Số
tiền vay: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); Mục đích vay: Tiêu dùng
(Mua sắm đồ gia dụng); Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 31/07/2020 đến hết
ngày 31/07/2024); Lãi suất: 18%/năm; Tài sản bảo đảm: Không tài sản bảo đảm.
Theo khế ước nhận nợ số: 882202000305/001 ký ngày 30/7/2020 thì số tiền
nhận nợ: 40.000.000 đồng, thời hạn vay: 48 tháng, lãi suất cho vay: 18%/năm,
phương thức điều chỉnh lãi suất: LSCV bằng (=)LScs cộng (+) 10.1%/năm (M),
lãi suất nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm
chuyển nợ quá hạn. Sau khi giao dịch, bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã
vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP L1 – Chi nhánh S1 – P đã nhiều lần
đến nhà đôn đốc, gửi thông báo nợ quá hạn cũng như lập nhiều biên bản làm
việc nhưng đến nay bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L vẫn chưa thanh toán
hết nợ vay. Số tiền bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L còn phải thanh toán
tạm tính đến ngày 16/4/2026 là 21.151.270 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần L1 thay đổi yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu bà Sơn Thị Nguyệt
N và ông Thạch L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày
16/4/2026 là 21.151.270 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 11.049.071 đồng, nợ lãi là
10.102.199 đồng (bao gồm: Lãi trong hạn là 8.220.597 đồng và lãi quá hạn là
1.881.602 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng
đã ký kết từ ngày 17/4/2026 cho đến khi bà N và ông L hoàn thành nghĩa vụ trả
nợ vay cho Ngân hàng TMCP L1.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L
đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tống đạt các văn bản
tố tụng khác nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo
trực tiếp vì bà N1 và ông L đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án
và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.