CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 8 năm 2025, quá trình giải quyết vụ án
2
với mức lãi 1,7%/tháng, hai bên có lập giấy mượn tiền ngày 31/5/2024, bà T đã
giao đủ cho ông Nh số tiền vay. Ông Nh có thế chấp cho bà T 01 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CY 739494,
thửa đất số 1214, tờ bản đồ số 18, diện tích 476m2, địa chỉ đất tại Ấp R, xã M,
huyện Đ, tỉnh Long An, việc thế chấp quyền sử dụng đất không được công chứng,
chứng thực, không đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật.
Khi đến hạn trả nợ và cho đến nay, bà T đã Nh lần yêu cầu nhưng ông Nh
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà
T. Do đó bà T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Nh có nghĩa vụ trả số
tiền 130.000.000 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng, tính mức lãi 1,7%/
tháng đến ngày 23/11/2025, tiền lãi là 30.000.000 đồng.
Tại phiên toà bà T xác định giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền nợ
gốc, về lãi, mức tính lãi bà T đồng ý tính theo quy định của pháp luật, lãi tính từ
ngày vay đến ngày xét xử vụ án và tiếp tục tính lãi đến khi ông Nh trả xong nợ cho
bà T. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận thế chấp, bà T sẽ trả lại
khi ông Nh trả nợ cho bà T, đề nghị xem xét buộc ông Nh phải trả chi phí đi lại bà
T đã bỏ ra khi thực hiện việc khởi kiện và tham gia tố tụng.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/3/2026, bị
đơn ông Mai Ngọc Nh trình bày:
Vào ngày 31/5/2024 tôi có vay bà Nguyễn Thụy Đông T số tiền gốc
100.000.000 đồng, hai bên có lập giấy mượn tiền cùng ngày, có chữ ký tên xác
nhận nợ của tôi, thoả thuận ngày trả nợ là ngày 31/7/2024. Khi vay tôi có đưa cho
bà T 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất số CY 739494, đứng tên tôi Mai Ngọc Nh để làm tin, không có đăng ký thế
chấp theo quy định của pháp luật.
Về lãi suất: Khi vay chúng tôi thoả thuận miệng, không ghi trong giấy nhận
nợ, thực tế tôi cũng có trả một phần tiền lãi tính đến tháng 03/2025 cho bà T theo
hình thức chuyển khoản, tôi đề nghị Toà án cho tôi thời gian 10 ngày để cung cấp
cho Toà án, tính từ ngày hôm nay nếu hết thời hạn 10 ngày tôi không cung cấp thì
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.