CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai,
Người đại diện hợp pháp của chị S, chị H: Bà Lê Thị L, sinh năm 1971; địa
chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Gia Lai; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền
ngày 17 tháng 10 năm 2025); có mặt.
4. Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Gia Lai;
vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Lê Duy K và chị
Nguyễn Thị Thu H1: Bà Lưu Thị Thùy T; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Gia Lai; là Luật
sư Công ty L1 chi nhánh xã T; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 6 năm 2025, lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc N trình bày:
Ông và bà Lê Thị L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và
sự thỏa thuận của các đương sự số 310/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm
2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Theo quyết định thì tài
sản chung và nợ thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ông có lấn chiếm được một phần đất. Tuy
nhiên, sau này nhà nước thu hồi phần đất này. Vì đất lấn chiếm nên UBND xã thống
nhất chủ trương cho ông và bà L mua một phần đất với giá rẻ để ổn định chỗ ở, đó
là thửa đất số 101, tờ bản đồ 39, tọa lạc thôn Đ, xã T, tỉnh Gia Lai. Thửa đất đã được
Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 510942
ngày 31/7/2015 cho hộ ông Nguyễn Ngọc N, bà Lê Thị L. Hộ gia đình ông gồm 05
thành viên: Ông, bà Lê Thị L, anh Nguyễn Lê Duy K, chị Nguyễn Thị Hồng S và
chị Nguyễn Lê Thu H. Mặc dù đứng tên hộ nhưng đất do vợ chồng ông mua và nhà
do vợ chồng ông xây dựng. Thời gian đã lâu nên ông không nhớ số tiền vợ chồng
ông mua phần đất này là bao nhiêu. Hiện nay, vợ chồng anh K, chị H đang quản lý,
sử dụng nhà đất trên. Tuy nhiên, đến khi ông muốn bán nhà chia đều cho các thành
viên trong hộ thì anh Nguyễn Lê Duy K không chịu ký tên.
Trước khi khởi kiện tại Tòa án, con gái ông đã thỏa thuận giá trị nhà đất là
1.500.000.000 đồng và con gái sẽ thanh toán tiền lại nhưng vì anh K không đồng ý
mà chỉ đưa ra giá 1.000.000.000 đồng nên bà L và ông không đồng ý. Nay ông yêu
cầu chia đều cho 05 thành viên của hộ gia đình theo giá thẩm định. Ông yêu cầu được
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.