CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 11 năm 2025 và lời khai trong quá
2
tiền bạc do ông H không lo làm ăn, ham mê cờ bạc nợ nần nhiều lần, bà đã thay
chồng trả nợ cho rất nhiều người nhưng hiện tại ông H vẫn không thay đổi, vợ
chồng không có tiếng nói chung thường hay cãi nhau nên đã ly thân từ tháng
11/2025 cho đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn
gắn được nên bà kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hải H.
Về con chung: bà và ông H có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Phúc N,
sinh ngày 13/10/2016, hiện tại đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông H cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn ông Nguyễn Hải H trình bày:
Tại bản tự khai ngày 06/01/2026, ông H trình bày ông và bà Trần Thị Thu T
kết hôn năm 2016, vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó mâu thuẫn do
ông sai phạm, ham mê cờ bạc, gây nợ nần. Ông biết lỗi của ông đã làm gia đình
không hạnh phúc, ông còn thương vợ con muốn đoàn tụ, mong bà T cho ông cơ
hội sửa sai. Ông cam kết không cờ bạc nữa, nếu tái phạm ông đồng ý ly hôn ngay
không có ý kiến gì khác. Trong vụ án này không yêu cầu về tài sản và nợ, ông cố
gắng khắc phục những sai trái, mong được đoàn tụ.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của
Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp
nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu T và ông Nguyễn Hải H; về con chung:
giao con chung tên Nguyễn Trần Phúc N cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; về
tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; về án
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.