Điều 15. , 17; Điều 38; Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn D 02 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời
gian tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến ngày 17/02/2025 và từ ngày 05/5/2025
đến ngày 27/10/2025;
-- 7 of 14 --
8
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều
17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 119 Luật
Tư pháp người chưa thành niên;
- Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Đăng K1 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật
tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi
hành án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Quang T3 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đị nh về trách nhiệm hình sự đối với các
bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy đị nh
của pháp luật.
Ngày 09/12/2025, bị cáo Phạm Lê N kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung
xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
Ngày 09/12/2025, bị cáo Nguyễn Tuấn K và người đại diện hợp pháp của bị
cáo là ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị O kháng cáo bản án sơ thẩm với
cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;
Ngày 09/12/2025, bị cáo Huỳnh Tấn D kháng cáo bản án sơ thẩm với nội
dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
Ngày 10/12/2025, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quang T3 là bà
Nguyễn Thị T4 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo;
Ngày 11/12/2025, bị cáo Trần Nguyễn Đăng K1 kháng cáo bản án sơ thẩm
với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị
cáo có kháng cáo đều giữ nguyên nội dung kháng cáo;
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị
Hội đồng xét xử:
+ Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Tấn D, Trần Nguyễn Đăng K1 và
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quang T3 là bà Nguyễn
Thị T4. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HSST ngày 26/11/2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với các bị cáo.
+ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn
K và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tấn K5 là ông
Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị O. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số
07/2025/HSST ngày 26/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, giảm hình
phạt cho các bị cáo; cân nhắc mức hình phạt giữa bị cáo N và bị cáo K5 cho phù
hợp, công bằng.
Những người bào chữa cho các bị cáo trình bày quan đi ểm đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét lại hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là quá
-- 8 of 14 --
9
nghiêm khắc. Khi phạm tội, các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức có phần hạn
chế, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội do bị rủ rê lôi kéo. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng tinh thần của Luật Tư pháp người chưa thành niên
và giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo; những người bào chữa cho các bị
cáo Phạm Lê N và bị cáo Nguyễn Tuấn K còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Huỳnh Tấn D, Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn
K, Trần Nguyễn Đăng K1; người đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Tấn
K5, Phạm Quang T3 kháng cáo bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của các chủ thể
kháng cáo trong thời hạn quy đị nh tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, do đó Hội đồng xét xử quyết đị nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
[2]. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét
tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời bào chữa của người bào chữa
cho các bị cáo, quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ căn
cứ kết luận:
[2.1]. Về tội danh:
Mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh Nguyễn Hồng Phúc  (sinh ngày
21/2/2009) nhưng vào đêm ngày 16/11/2024, các bị cáo Đoàn Thượng Thanh T9,
Huỳnh Tấn D, Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K, Đoàn Tuấn K3, Võ Công A3, Đỗ
Xuân M, Nguyễn Tấn T8 đã đuổi theo chặn đánh anh Â. Khi anh  chạy vào ngõ
cụt thì bị T9 dùng hai tay cầm 01 cây dao tự chế chém về phía anh Â, anh  đưa
tay ra đỡ thì trúng một nhát vào cánh tay phải, bị chém, anh  ngồi xuống và nói
“Em không dám nữa, em không dám nữa”. Lúc này, T8, Công A3, N, M, K cũng
xông đến đánh anh Â; Trực tiếp tục xông đến dùng chân đạp 02 cái vào người Â
và dùng dao chém 01 nhát trúng vào chân trái của anh Â; T8 và A3 dùng chân
đạp anh Â; Phạm Lê N dùng vỏ chai bia Dung Q đánh vào đầu anh  và dùng tay,
chân đánh vào người anh Â; K dùng tay, chân đánh vào người anh  và dùng bình
chữa cháy ném vào người anh  rồi cả nhóm bỏ đi ra ngoài. Khi tất cả đi ra bên
ngoài thì Trực tiếp T15 cầm dao chạy quay lại chỗ anh  rồi vung dao lên chém
từ trên xuống hướng về phía anh Â, anh  đưa hai tay đỡ và nói “không phải em,
không phải em” nhưng T9 vẫn cầm dao bằng hai tay chém anh  nhiều nhát theo
hướng từ trên xuống, anh  vừa dùng tay đỡ, vừa né dao thì trúng vào cả hai tay
và vào vùng ngực gần mạng sườn trái, K vào dùng ná bắn anh  nhưng không
trúng, còn D ngồi trên xe mô tô chờ cả nhóm đánh xong thì cùng c ả nhóm bỏ đi.
Hậu quả anh Nguyễn Hồng Phúc  bị tổn thương cơ thể với tỉ lệ 52%.
Cùng lúc đó, Trần Nguyễn Đăng K1, Lâm Nguyễn Thiên A4, Nguyễn Hữu
N1, Phạm Quang T3 mang theo dao phóng lợn, dao quan công, cùng với nhóm
của T9 đi tìm nhóm Quốc A2 để đánh. Đến khu Q - L thì thấy nhóm thanh niên
-- 9 of 14 --
10
nên đuổi theo, đến gần khu vực V1 thì tách khỏi nhóm của T9. Khi nhìn thấy anh
P3 đang điều khiển xe chở anh Đ1 đi ngược lại thì A4 điều khiển xe chở K1 chạy
thẳng về phía xe P3 và Đ1. A4 điều khiển xe chở K1 cầm dao phóng lợn, T3
xuống xe cầm dao chạy bộ và N1 điều khiển xe đi một mình đu ổi theo phía sau.
Khi đuổi kị p anh Đ1, K1 ngồi sau xe mô tô quay lưng lại cầm 01 cây dao phóng
lợn chém một nhát từ trên chém xuống trúng vào đầu của Đ1, T3 chạy bộ đến cầm
dao chém vào người của Đ1, dùng chân đạp vào người anh Đ1 rồi lên xe bỏ đi.
Anh Nguyễn Trung Đ1 bị tổn thương cơ thể với tỉ lệ 09%.
Với các hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết tội Huỳnh Tấn
D, Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K “Giết người” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123
của Bộ luật Hình sự; Trần Nguyễn Đăng K1, Phạm Quang T3 “Gây rối trật tự
công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và kháng cáo của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị
cáo, thấy rằng:
Chỉ vì mâu thuẫn cá nhân nhỏ nhặt, không rõ ràng với nhóm thanh niên khác
(không rõ lai lị ch) mà các bị cáo tụ tập băng nhóm, rủ rê lôi kéo, chuẩn bị hung
khí đánh nhau, di chuyển bằng nhiều xe mô tô trên nhiều tuyến đường lúc đêm
khuya trên đị a bàn thành phố Q (cũ) để tìm đánh nhóm thanh niên đã mâu thu ẫn
với nhóm mình trư ớc đó. Khi gặp hai nhóm thanh niên khác không quen biết,
nhóm của Đoàn Nguyễn Thanh T16 trong đó có Huỳnh Tấn D, Nguyễn Tuấn K,
Phạm Lê N đã đuổi theo, dùng vỏ chai bia tấn công. Khi bị rượt đuổi vào ngõ cụt,
mặc dù anh Nguyễn Hồng Phúc  đã cầu xin nhưng các bị cáo vẫn dùng dao tự
chế, vỏ chai bia, chân, tay, ná tấn công anh Â. Trong đó, Phạm Lê N dùng chân,
tay đánh vào người và dùng vỏ chai bia đánh vào đầu anh Â; Nguyễn Tuấn K
dùng tay, chân đánh, dùng ná bắn và dùng bình cứu hoả ném vào người anh Â;
Huỳnh Tấn D là người chở N đi và đứng chờ. Sau đó cả nhóm bỏ đi, anh  bị tổn
thương cơ thể với tỷ lệ 52%.
Ở nhóm khác, Trần Nguyễn Đăng K1 ngồi xe do A4 chở, Phạm Quang T3
ngồi xe do N1 chở, các bị cáo đều cầm theo dao di chuyển trên nhiều tuyến đường
thuộc thành phố Q (cũ). Khi thấy nhóm thanh niên khác, các bị cáo đuổi theo đánh
rồi K1, T3 dùng dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Trung Đ1.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K và Huỳnh Tấn
D thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng
của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi bị các bị cáo tấn công, anh Nguyễn
Hồng Phúc  chưa đủ 16 tuổi; hành vi của Trần Nguyễn Đăng K1, Phạm Quang
T3 làm mất an toàn giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại đị a phương.
Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra
khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo riêng đối với các bị
cáo cũng như phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K và Huỳnh Tấn D
phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự phân
-- 10 of 14 --
11
công bàn bạc; Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K tham gia với vai trò người thực hành,
Phạm Tấn D2 tham gia với vai trò giúp sức, không trực tiếp tác động vào cơ thể
bị hại, hậu quả chết người chưa xảy ra, các bị cáo phạm tội chưa đạt; Trần Nguyễn
Đăng K1 và Phạm Quang T3 là người thực hành tích cực, tập hợp băng nhóm gây
náo loạn đường phố; Phạm Quang T3 có nhân thân xấu, từng bị xử lý hành chính
bằng Biện pháp giáo dục tại xã nhưng không lấy đó làm bài học tư dưỡng mà tiếp
tục phạm tội.
Sau khi phạm tội, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị
cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K và Huỳnh Tấn D đã tác động gia đình b ồi thường,
khắc phục hậu quả cho bị hại; gia đình các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tấn K5 có
công với cách mạng; Huỳnh Tấn D, Phạm Lê N có hoàn cảnh gia đình khó khăn
được chính quyền đị a phương xác nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn
Tuấn K chưa đủ 16 tuổi; Phạm Lê N, Phạm Quang T3, Trần Nguyễn Đăng K1
chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Khi quyết đị nh hình
phạt, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K và
Huỳnh Tấn D các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đị nh tại các điểm b,
s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng cho các bị cáo Phạm Quang
T3, Trần Nguyễn Đăng K1 các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đị nh
tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xem xét áp dụng cho các
bị cáo Nguyễn Tuấn K, Phạm Lê N, Phạm Quang T3, Trần Nguyễn Đăng K1 quy
đị nh tại các Điều 90, 91 Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên
là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trên cơ sở xem xét toàn diện vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt
Nguyễn Tuấn K 03 năm tù, Phạm Lê N, Huỳnh Tấn D mỗi bị cáo 02 năm 06 tháng
tù về tội “Giết người”; Trần Nguyễn Đăng K1, Phạm Quang T3 mỗi bị cáo 03
năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm
xử phạt các bị cáo là tương xứng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội
của các bị cáo, thể hiện sự phân hóa vai trò của từng bị cáo trong vụ án, đảm bảo
nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy đị nh của Bộ
luật Hình sự và phù hợp với quy đị nh của Luật Tư pháp người chưa thành niên
cũng như công tác giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[2.3]. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Huỳnh Tấn D, Trần Nguyễn Đăng K1
cũng như người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quang T3 không cung cấp
được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới có ý nghĩa nên không có căn
cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo mà cần giữ nguyên hình phạt của bản
án sơ thẩm đối với cáo bị cáo Huỳnh Tấn D, Trần Nguyễn Đăng K1, Phạm Quang
T3 như đề nghị của Kiểm sát viên.
Đối với các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K: các bị cáo cung cấp tài liệu
thể hiện các bị cáo có sự quan tâm, thăm hỏi đối với bị hại Nguyễn Hồng Phúc Â;
các bị cáo đã tác động gia đình h ỗ trợ thêm cho bị hại số tiền 6.000.000đ nên đã
được bà Đoàn Thị L4 là mẹ ruột của bị hại xác nhận và viết Đơn đề nghị Hội đồng
xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Phạm Lê N nộp khoản
tiền án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo tích cực tham gia các hoạt động Đoàn tại trường
Trung học phổ thông B2, tỉnh Quảng Ngãi và được Ban, Ban 1 xác nhận.
-- 11 of 14 --
12
Xét thấy, tài liệu mà các bị cáo Phạm Lê N, Nguyễn Tuấn K cung cấp tại
phiên toà phúc thẩm thể hiện thái độ thật sự ăn năn, hối cải của các bị cáo. Đây là
các tình tiết giảm nhẹ mới quy đị nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội
đồng xét xử áp dụng để xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo N, K và
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo K; giảm cho mỗi bị cáo một
phần hình phạt để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, cũng như tạo
điều kiện cho các bị cáo sớm có cơ hội trở lại làm người công dân có ích cho xã
hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; đồng thời, Hội đồng xét xử cũng
cân nhắc mức hình phạt giữa bị cáo Nguyễn Tuấn K và Phạm Lê N cho phù hợp,
công bằng, bởi lẽ các bị cáo giữ vai trò ngang nhau trong vụ án, khi thực hiện
hành vi phạm tội, Nguyễn Tuấn K 15 năm 11 ngày tuổi, Phạm Lê N 16 năm 17
ngày tuổi.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên
các bị cáo Huỳnh Tấn D, Nguyễn Đăng K1 và bà Nguyễn Thị T4 đại diện hợp
pháp của bị cáo Phạm Quang T3 phải chị u theo quy đị nh; các bị cáo Phạm Lê N,
Nguyễn Tuấn K không phải chị u.
[4]. Các phần quyết đị nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Tấn D, Trần Nguyễn
Đăng K1 và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quang T3
là bà Nguyễn Thị T4. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HSST ngày
26/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với các
bị cáo.
1.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38;