Số: 089097004373
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxét xử số: 132/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2026, giữa các
2
- Về nợ chung: không có
Trong quá tr nh giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Thanh P không gửi ý
kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt quá tr nh tố tụng tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-An Giang phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể
từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với
quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét
xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh, đề nghị: Chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Quế T, bà Lê Thị Quế T được ly hôn với
ông Nguyễn Thanh P; Ông Nguyễn Thanh P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng
con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 11/02/2023; bà Lê Thị Quế T không
phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Lê Thị Quế T khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn
Thanh P. Ông P có nơi cư trú trên địa bàn xã C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các
Điều 28. , 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11-An Giang
thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. [2] Bà Lê Thị Quế T có văn bản xin vắng mặt, ông Nguyễn Thanh P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Quế T và ông Nguyễn Thanh P là hợp pháp v ông bà có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 44/2015 do Ủy ban nhân dân xã T, huyên C, tỉnh An Giang cấp ngày 18/08/2022. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn tr nh bày tính t nh không hợp, thường xuyên bất hòa, cả hai cố gắn t m cách hàn gắn nhưng không thể nào sống chung được và không còn chung sống từ đó đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng bà T xin ly hôn với ông P, bà T, ông P sống chung với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được, chính v vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đ nh năm 2014 cho nên Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. [4] Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Quế T tr nh bày là vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 11/02/2023; hiện con chung đang sinh sống với ông P, khi ly hôn đồng ý để ông P được chăm sóc nuôi dưỡng con chung, bà T không tranh chấp việc nuôi con. Xét thấy, con hiện nay do ông P đang nuôi dưỡng, bà T không tranh chấp việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thanh D, sinh ngày 11/02/2023, cho ông P được tiếp tục nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đ nh năm 2014. 3 Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến. [5] Về quan hệ tài sản chung: Bà Lê Thị Quế T khởi kiện xác định không có nên không xét đến. [6] Về nợ chung: Bà Lê Thị Quế T khởi kiện xác định không có nên không xét đến. [7] Về án phí: Bà Lê Thị Quế T phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào, - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh; - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Quế T. 1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Quế T ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. 2) Về con chung: Ông Nguyễn Thanh P được tiếp tục nuôi con chung là Nguyễn Thanh D, sinh ngày 11/02/2023. Ông Nguyễn Thanh P cùng các thành viên gia đ nh (nếu có) không được cản trở bà Lê Thị Quế T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. V lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3) Về tài sản chung: Bà Lê Thị Quế T khởi kiện xác định không có nên không xét đến. 4) Về nợ chung: Bà Lê Thị Quế T khởi kiện xác định không có nên không xét đến. 5) Về án phí: Bà Lê Thị Quế T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm ngh n đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm ngh n đồng) theo biên lai thu số 302493 ngày 09/03/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Lê Thị Quế T đã nộp đủ. 4 6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt th thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận: - VKSND khu vực 11-An Giang;; - TAND tỉnh An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã C, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.