Điều 51. ; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị
tạm giam từ ngày 22/5/2024 đến ngày 24/6/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt bổ sung; xử lý
vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2025, bị cáo Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo với nội dung xin
giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 06/10/2025, Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và được hưởng án treo.
Ngày 09/10/2025, bị hại Ủy ban nhân dân (UBND) xã D, tỉnh Đắk Lắk
(người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk)
kháng cáo xin giam nhẹ hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị T.
-- 14 of 19 --
15
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T và bị hại đều giữ nguyên nội
dung kháng cáo; bị cáo Nguyễn Văn S thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo cho
rằng mình đã làm đúng quy định của pháp luật về kế toán trong việc thanh quyết
toán và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu
quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356
của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, không
chấp nhận kháng cáo của bị hại Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Đắk Lắk, giữ
nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn S,
Nguyễn Thị T.
Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét
xử huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại vụ án vì số tiền cho rằng
các bị cáo gây thiệt hại trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016 chưa được
làm rõ; có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Trong trường hợp Hội đồng xét xử không
chấp nhận việc huỷ án sơ thẩm để điều tra lại thì xem xét cân nhắc cho các bị
cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 và 09/10/2025, các bị cáo Nguyễn Văn S,
Nguyễn Thị T và bị hại Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Đắk Lắk có đơn kháng cáo
Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2025/HS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk; Đơn kháng cáo của các bị cáo và bị hại là trong thời hạn quy
định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét
theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo và bị hại, thấy rằng:
[2.1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T thừa nhận hành vi và tội
danh như Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội; bị cáo Nguyễn
Văn S đề nghị xem xét lại tội danh đối với bị cáo.
Mặc dù bị cáo S thay đổi lời khai so với giai đoạn điều tra và lời khai tại
phiên toà sơ thẩm nhưng bị cáo không đưa ra được căn cứ nào để bác bỏ các lời
khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như lời khai nhận tội của
bị cáo tại phiên toà sơ thẩm. Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình
điều tra, truy tố và lời khai của bị cáo Nguyễn Thị T tại phiên toà phúc thẩm
hôm nay là phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án,
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: mặc dù Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ Nông
nghiệp D4 không thực hiện việc bơm, tưới cho các cánh đồng của các hộ dân sử
dụng điện tại Trạm điện T90, nhưng để thanh toán hỗ trợ kinh phí của Nhà nước
-- 15 of 19 --
16
chi trả việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi trong hoạt động của
HTX, từ năm 2013 đến năm 2020, Nguyễn Văn S - Giám đốc HTX D4 đã thoả
thuận với các hộ trồng lúa có sử dụng điện tại Trạm T90 ký kết các hợp đồng
cung cấp dịch vụ công ích thuỷ lợi khống và đã chỉ đạo cho Nguyễn Thị T - Kế
toán HTX lập khống hồ sơ, chứng từ, tài liệu kế toán nhằm quyết toán tiền chi
trả hỗ trợ của Nhà nước với số tiền 2.294.935.494 đồng, gây thiệt hại
804.401.237 đồng cho ngân sách Nhà nước. Trong đó, S dùng 1.198.702.687
đồng để thanh toán tiền điện cho các hộ dân sử dụng điện tại Trạm điện T90; chi
hỗ trợ cho các hộ dân làm kênh mương là 80.000.000 đồng; chi cho việc nạo vét
kênh tiêu, phun thuốc trừ cỏ, phát dọn kênh tiêu thuộc cánh đồng tại Trạm T90
là 160.000.000 đồng; chi tiền mỡ bôi trơn sửa chữa máy bơm của các trạm do
Hợp tác xã D4 quản lý là 8.940.000 đồng và 42.891.570 đồng là số tiền kinh phí
tiêu nước Trạm T90 Hợp tác xã D4 được hưởng theo quy định.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị
T về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” với tình tiết
định khung “Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng”
theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 221 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và
hình phạt đối với các bị cáo:
Các bị cáo đều đủ năng lực, hiểu biết việc pháp luật bảo vệ tính đúng đắn,
trật tự quản lý kinh tế, quy định chặt chẽ về chế độ, công tác kế toán, từ đó nhận
thức được hành vi lập khống hồ sơ, khai man tài liệu kế toán là trái pháp luật
nhưng vẫn bất chấp cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, việc cách
ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là điều cần thiết để
giáo dục và răn đe tội phạm chung.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn S là người đại diện theo pháp luật của HTX
D4, điều hành mọi công việc của HTX. Bị cáo biết rõ các hành vi, hoạt động
nhân danh HTX mà bị cáo thực hiện là thay mặt cho cả tập thể nhưng với chức
vụ Giám đốc HTX D4, bị cáo là người trực tiếp thỏa thuận với các hộ dân trồng
lúa có sử dụng điện tại Trại T90, chỉ đạo Nguyễn Thị T lập hồ sơ đăng ký diện
tích tưới, biên bản nghiệm thu, thanh lý, lập dự toán kinh phí gửi các đơn vị
chức năng tổng hợp làm căn cứ đề nghị cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán;
chính S là người chi trả tiền hỗ trợ cho các hộ dân và chi trả tiền cho các hoạt
động của HTX nên Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo có vai trò chính trong vụ
án, chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo khác là có cơ sở. Tuy nhiên, bị cáo có các
tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục, bồi
thường hậu quả thiệt hại; có thành tích xuất sắc trong quá trình sản xuất, công
tác được tặng thưởng Bằng khen, Giấy khen và nhiều người dân có đơn xin cứu
xét, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các quy
đinh tại điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có
căn cứ, đúng quy định.
-- 16 of 19 --
17
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân
và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị
cáo 03 năm 06 tháng tù là thỏa đáng. Tại cấp phúc thẩm, mặc dù bị cáo được
Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự gồm: được đại diện bị hại, các cá nhân nơi bị cáo sinh sống xin
giảm nhẹ hình phạt, bị cáo tích cực tham gia hoạt động thiện nguyện tại địa
phương, nhưng thấy rằng: mức án 03 năm 06 tháng tù chỉ là mức khởi điểm của
khung hình phạt tù từ 03 năm đến 12 năm tại điều luật mà bị cáo bị truy tố, xét
xử; bị cáo thực hiện với vai trò chính; đồng thời, như nhận định ở trên, hình phạt
này đã là phù hợp. Do đó, để đảm bảo phân hóa hành vi phạm tội cũng như công
tác giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm đối với người đứng đầu đơn vị, Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo S và
bị hại UBND xã D, tỉnh Đắk Lắk, cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo
Nguyễn Văn S.
Đối với Nguyễn Thị T: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các
điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự gồm: thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; có thành tích tốt
trong công tác được Giám đốc HTX tặng nhiều Giấy khen qua các năm; đồng
thời bị cáo thực hiện hành vi theo sự chỉ đạo của bị cáo S, vai trò hạn chế nên
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm
200.000đ; Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa
phương nơi bị cáo cư trú xác nhận; HTX D4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo; bị cáo hiện đang trực tiếp phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị
Đ7 hiện trú tại thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo tích cực tham gia hoạt động
thiện nguyện tại địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm áp
dụng cho bị cáo.
Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Thị T là kế toán ký hợp đồng từng năm với
HTX D4, là người làm thuê cho HTX và chịu sự quản lý, chi phối từ người có
thẩm quyền. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hoàn toàn theo sự chỉ đạo của bị
cáo S với nhận thức là trong công việc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đây
cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội. Trong tổng số tiền
2.294.935.494 đồng quyết toán chi trả hỗ trợ của Nhà nước thì đều do bị cáo S
sử dụng chi trả còn T không sử dụng, không có tư lợi. Sau khi phạm tội, dù hoàn
cảnh gia đình khó khăn nhưng bị cáo vẫn tự nguyện nộp số tiền 100.000.000
đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả. Bị cáo là phụ nữ, còn có 02 con trong
độ tuổi học sinh cần chăm lo, giáo dục. Nơi bị cáo từng công tác là HTX D4 có
đơn tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp
nhận một phần kháng cáo của bị cáo và bị hại UBND xã D, tỉnh Đắk Lắk, giảm
cho bị cáo T một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập
cộng đồng, tiếp tục rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện
-- 17 of 19 --
18
chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội thật sự biết ăn năn hối
cải.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận nên bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Thị
T không phải chịu án phí.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S và kháng cáo của bị
hại Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Đắk Lắk về nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo Nguyễn Văn S. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2025/HS-ST
ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với bị cáo S.
1.1 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 221; các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2