CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcDo Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2025 của
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên
đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh và chị Đỗ Thị B không có mối quan hệ họ hàng. Anh biết chị B có khả
năng bán các lô đất tại khu đô thị P nên anh đặt vấn đề mua đất của chị B. Trên cơ
sở thỏa thuận, anh đặt cọc để mua 05 lô đất liền kề từ lô 15 -19. Số tiền đặt cọc là
1.765.000.000 đồng. Số tiền này anh đã chuyển khoản cho chị B và chị B đã nhận
đủ. Khi đặt cọc hai bên có thiết lập thành hợp đồng đặt cọc vào ngày 26/8/2021,
trong nội dung hợp đồng nêu chị B đồng ý bán cho anh nhà và đất tại thửa đất liền
kề 20 từ lô 15 -19. Nội dung hợp đồng ghi như vậy nhưng tại thời điểm đặt cọc tiền,
anh biết chị B chưa được nhận đất, toàn bộ phần đất đô thị phía tây Nam Sách lúc
đó mới là dự án, chưa có cơ sở hạ tầng. Anh hoàn toàn tin tưởng chị B nên mới đặt
cọc mua 05 lô đất trên. Sau này, giá đất tăng và anh cũng không có nhu cầu mua đất,
chị B cũng không có khả năng bàn giao đất nên hai bên thống nhất chấm dứt hợp
đồng đặt cọc và anh yêu cầu chị B cùng anh Đ phải có trách nhiệm thanh toán toàn
bộ số tiền cọc cho anh là 1.765.000.000 đồng. Anh yêu cầu anh Đ phải có trách
nhiệm cùng chị B thanh toán tiền cho anh vì trong hợp đồng đặt cọc anh Đ có ký tên
nên phải có trách nhiệm cùng.
Cùng ngày 26/8/2021 anh và chị B tiếp tục ký hợp đồng vay vốn với mục
đích: Chị B vay để đặt cọc mua đất tại khu đô thị P. Anh cho chị B vay với số tiền
3.275.000.000 đồng. Số tiền này anh đã chuyển khoản cho chị B, chị B đã nhận đủ.
Khi cho vay hai bên có thiết lập hợp đồng vay tài sản. Trong nội dung hợp đồng có
chỗ ghi là vay tiền, có chỗ lại thể hiện nội dung là đặt cọc mua 10 lô đất tại khu phía
tây N. Tuy nhiên, anh xác định số tiền trên anh cho chị B vay, vay có thỏa thuận về
lãi suất theo lãi suất Ngân hàng TMCP S và có thỏa thuận về thời hạn thanh toán là
02 tháng. Quá thời hạn thanh toán anh đã trao đổi yêu cầu chị B trả lại số tiền trên.
Chị B đã thanh toán cho anh được 340.000.000 đồng. Số tiền chị B còn nợ anh tại
hợp đồng vay là 2.935.000.000 đồng. Anh xác định khoản tiền vay này anh cho chị
B vay riêng, không liên quan đến anh Đ nên anh Đ không có trách nhiệm liên đới
thanh toán cùng chị B.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.