phạt: Lê Ánh T10 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
02 (H18) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng
hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội
là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.
phạt: Nguyễn Văn Đ1 11 (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản”; 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ
chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung
của 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2024.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
-- 18 of 27 --
19
phạt: Nguyễn Quang H5 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
12/1/2024.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
phạt: Hán Mạnh H9 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
01/8/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
Hình sự đối với bị cáo Dương Hoàng K, Trần Văn D1
phạt: Dương Hoàng K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt
thi hành án.
phạt: Trần Văn D1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Toà án nhân dân thành phố Hà Nội kiến nghị cơ quan tiến hành tố tụng có
thẩm quyền tiếp tục thực hiện điều tra, truy tố đối với Dương Hoàng K, Trần Văn
D1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174
Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối
với các bị cáo Nguyễn Thùy T2, Nguyễn Thị Hoài T3; về trách nhiệm dân sự, xử
lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/12/2025, các bị cáo Lê Ánh T10, Hán Mạnh H9 kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt.
Ngày 04/12/2025, các bị cáo Nguyễn Quang H5, Nguyễn Văn Đ1 kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 05/12/2025, bị cáo Lê Duy H1 kháng cáo xin xem xét lại toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Ngày 05/12/2025, các bị cáo Trần Văn D1 và Dương Hoàng K đều kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Duy H1, Nguyễn Văn Đ1, Lê Ánh
T10, Hán Mạnh H9, Nguyễn Quang H5 đều thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa
án cấp sơ thẩm đã xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm
nhẹ mới, cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo Trần Văn D1 và Dương Hoàng K thay đổi kháng cáo, xin hưởng
án treo; các bị cáo D1, K, H1, H5 cung cấp tài liệu mới thể hiện các bị cáo đã nộp
một phần hoặc toàn bộ khoản tiền về trách nhiệm dân sự, án phí dân sự và án phí
hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm; tài liệu về việc các bị cáo
tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện tại địa phương…
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội sau khi phân
-- 19 of 27 --
20
tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội; tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, kết luận: Các bị cáo H1, T10, Đ1 bị Tòa án cấp
sơ thẩm kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài
liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174và điểm
a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự ; các bị cáo H5, H9 về tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; các bị cáo D1, K về
tội Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khoản 1 Điều 341 Bộ
luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp
tục thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, cung
cấp một số tài liệu là tình tiết giảm nhẹ mới gồm: Biên lai nộp tiền khắc phục hậu
quả cho các bị hại; án phí hình sự sơ thẩm, đơn xác nhận của địa phương về hoàn
cảnh gia đình, nhân thân các bị cáo tham gia cách mạng…
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H5 cung cấp Biên lai nộp tiền khắc phục hậu
quả, tiền thu lời bất chính và án phí hình sự sơ thẩm, đơn xác nhận của chính
quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình, nhân thân bị cáo tốt, chưa tiền án, tiền
sự, trước khi phạm tội bị cáo tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện như hiến
máu nhân đạo, được Ngân hàng S2 tặng Giấy khen trong quá trình công tác, gia
đình có công Cách mạng;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của
các bị cáo Lê Duy H1, Lê Anh T12, Nguyễn Văn Đ1, Hán Mạnh H9, Nguyễn
Quang H5: Giảm cho bị cáo H1 12 đến 16 tháng tù; các bị cáo T12, H9, Đ1 giảm
cho mỗi bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù; giảm cho bị cáo H5 từ 18 đến 24 tháng tù;
chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn D1 và Dương
Hoàng K, giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho các bị cáo H1, H5, T12, H9, Đ1 không có ý kiến về tội
danh; nhất trí quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
tại Hà Nội; đề nghị HĐXX xem xét, đánh giá tính chất hành vi phạm tội, vai trò
của từng bị cáo, đặc biệt là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo H1, bị cáo H5 xuất trình
tại phiên tòa, theo đó giảm hình phạt cho các bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức
hình phạt đại diện Viện Công tố đề nghị tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của các bị cáo Lê Duy H1, Lê Ánh T10, Nguyễn Văn Đ1,
Hán Mạnh H9, Nguyễn Quang H5, Dương Hoàng K và Trần Văn D1 đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số 810/2025/HS-ST ngày 26, 27 tháng 11 năm 2025 của Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội đều trong thời hạn nên được chấp nhận để xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Các quyết định và hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng,
-- 20 of 27 --
21
người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình
tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có ý kiến hoặc khiếu
nại.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Duy H1 thay đổi nội dung kháng
cáo từ đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án phúc thẩm đối với số tiền bị cáo hưởng
lợi và số tiền bị quy trách nhiệm, nay bị cáo thừa nhận hành vi đã bị Tòa án cấp
sơ thẩm quy kết là đúng pháp luật; bị cáo ăn năn hối cải và kháng cáo chỉ xin giảm
nhẹ hình phạt; các bị cáo Trần Văn D1 và Dương Hoàng K thay đổi nội dung
kháng cáo từ xin giảm nhẹ hình phạt sang xin được hưởng án treo để được cải tạo
ngoài xã hội. Nội dung thay đổi này phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi
cho các bị cáo nên được chấp nhận để xét.
Các bị cáo Dương Hoàng K, Trần Văn D1, Nguyễn Quang H5, Lê Duy H1
xuất trình thêm các tài liệu mới đã được HĐXX công bố và thẩm vấn công khai
tại phiên tòa nên được xem xét.
[2] Về nội dung, xét kháng cáo của các bị cáo Lê Duy H1, Lê Ánh T10,
Nguyễn Văn Đ1, Hán Mạnh H9, Nguyễn Quang H5, Dương Hoàng K và bị cáo
Trần Văn D1. Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Về hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài bị cáo Lê Duy H1 ban đầu còn chưa nhận
thức rõ hành vi phạm tội của bị cáo là đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo T2
chiếm đoạt tiền của Ngân hàng nhưng trong quá trình xét hỏi bị cáo đã thay đổi
nhận thức và thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về sai phạm của mình;
các bị cáo còn lại đều tiếp tục thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như
đã được xác định tại bản án sơ thẩm, không oan. Căn cứ và kết quả tranh tụng và
các tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 01/2019
đến tháng 4/2019, Ngân hàng S3 đưa ra quy định “Cho vay mua xe ô tô” với tài
sản thế chấp là chính xe ô tô của khách hàng. Lợi dụng những sơ hở trong quy
trình cho vay của Ngân hàng S3, Nguyễn Thùy T2 thuê Lê Duy H1 và một số đối
tượng khác đã làm giả tài sản đảm bảo cho các khoản vay bằng cách tìm 06 xe ô
tô nhập lậu có nguồn gốc từ nước ngoài vào rồi chuyển các thông tin khách hàng
để đối tượng Vương Quốc T4 làm giả 06 giấy đăng ký xe và các hợp đồng mua
bán xe ô tô và một số tài liệu khác. T2 đã cấu kết với cán bộ Ngân hàng S3, trong
đó có sự giúp sức của bị cáo Nguyễn Quang H5 trong ba hồ sơ vay vốn của khách
hàng từ không đủ điều kiện thành đủ điều kiện vay vốn để T2 05 lần lừa đảo chiếm
đoạt tài sản với tổng số tiền 4.175.200.046 đồng của Ngân hàng S3.
Tại bản án sơ thẩm đã xác định:
“- Nguyễn Thùy T2 và Lê Duy H1 có hành vi sử dụng 10 tài liệu giả (06
đăng ký xe ô tô, 04 giấy xác nhận nhân thân Đ1) để làm giả 06 hồ sơ vay vốn
ngân hàng; thực hiện và đồng phạm trong 05 vụ lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền
4.175.200.046 đồng của Ngân hàng S2 (V, vụ 4 vụ 5, vụ 6).
- Lê Ánh T10 có hành vi sử dụng 01 tài liệu giả để lừa đảo chiếm đoạt số
tiền là 683.060.000 đồng của Ngân hàng S2 4).
-- 21 of 27 --
22
- Nguyễn Văn Đ1 có hành vi sử dụng 04 tài liệu giả, đồng phạm với Nguyễn
Thùy T2 lừa đảo chiếm đoạt số tiền 568.400.000 đồng của Ngân hàng S2).
- Hán Mạnh H9 đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Thùy T2 lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong 02 vụ với tổng số tiền là 1.408.809.046 đồng (vụ 2, 3).
- Nguyễn Quang H5 và Nguyễn Thị Hoài T3 có hành vi giúp sức cho Nguyễn
Thùy T2 lừa đảo chiếm đoạt số tiền là 840.409.046 đồng, H5 hưởng lợi
154.000.000 đồng (vụ 2).
- Dương Hoàng K và Trần Văn D1 có hành vi thuê làm và sử dụng 01 tài
liệu giả để làm hồ sơ vay vốn ngân hàng (vụ 1).”
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thùy T2, Lê Duy
H1, Nguyễn Thị Hoài T3, Hán Mạnh H9, Lê Ánh T10, Nguyễn Văn Đ6 các tội
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật
Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định
tại các điểm a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Quang H5 về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ
luật Hình sự; các bị cáo Dương Hoàng K, Trần Văn D1 về tội “Sử dụng con dấu,
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình
sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo Nguyễn Thùy
T2 và Nguyễn Thị Hoài T3 Không kháng cáo nên không xét.
[2.2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo H1, H9, T10, Đ1,
H5 và kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo D1, K; Hội đồng xét xử xét
thấy:
Tại bản án sơ thẩm đã nhận định “Hành của các bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản người khác, gây mất trật tự ổn định xã hội,
các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành
vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực
hiện” là có căn cứ nên khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét,
đánh giá vai trò của từng bị cáo. Theo đó:
Các bị cáo trong vụ án phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Trong đó
bị cáo Nguyễn Thùy T2 là kẻ chủ mưu và chiếm đoạt, hưởng phần lớn số tiền đã
chiếm đoạt được hoặc tiền hưởng lợi trong các hồ sơ vay vốn đã được làm rõ trong
vụ án này. Bị cáo Lê Duy H1 đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực trong cả 05
vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng; trong đó bị cáo T2 có hành vi chủ
mưu trong 02 hồ sơ tín dụng Nguyễn Thị Hoài T3 và Nguyễn Văn Đ1, trực tiếp
chiếm đoạt số tiền 1.408.809.046 đồng, đồng phạm giúp sức chiếm đoạt số tiền
2.766.391.000 đồng của 03 hồ sơ tín dụng nên vai trò và trách nhiệm hình sự của
bị cáo T2 là cao nhất đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đối với hành vi Sử
dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, bị cáo T2 có vai trò đồng phạm
giúp sức, cung cấp thông tin để H1 chuyển cho đối tượng T4 làm giả 10 tài liệu
nên vai trò trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo H1. Bị cáo H1 đồng phạm giúp
sức cùng T2 trong cả 05 hồ sơ tín dụng, vai trò thấp hơn bị cáo T2 nhưng vai trò
cao hơn các bị cáo khác đồng phạm đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
-- 22 of 27 --
23
có vai trò đồng phạm tích cực trong việc chuyển tài liệu cho đối tượng tên T4 để
làm giả 10 tài liệu nên vai trò, trách nhiệm cao hơn bị cáo T2 ở tội “Sử dụng giấy
tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Do đó khi quyết định hình phạt, tại bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng và đầy
đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.
[2.2.1] Đối với bị cáo Lê Duy H1: Tại bản án sơ thẩm đã quyết định hình
phạt 12 năm tù đối với bị cáo Lê Duy H1 là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm
xác định số tiền bị cáo được hưởng lợi không lớn, sau khi có quyết định của bản
án sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 225.000.000 đồng tiền khắc
phục một phần hậu quả cho ngân hàng, nộp 46.545.000 đồng tiền án phí dân sự
sơ thẩm và hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án; tại phiên tòa bị cáo thành
khẩn thừa nhận hành vi phạm tội như đã bị quy kết, điều này thể hiện sự ăn năn
hối cải của bị cáo, bị cáo có bố đẻ là thương binh và mới mất ngày 20/12/2025;
do đó áp dụng tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật chấp nhận kháng cáo
giảm cho bị cáo Lê Duy H1 một phần hình phạt đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản”không có căn cứ xem xét giảm hình phạt cho bị cáo Lê Duy H1 đối với tội
“Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
[2.2.2] Đối với bị cáo Hán Mạnh H9, tại bản án sơ thẩm đã xác định bị cáo
là đồng phạm giúp sức và cùng hưởng lợi với bị cáo T2 trong 02 hồ sơ bị cáo
Trang chủ M3 chiếm đoạt số tiền 1.408.809.046 đồng của Ngân hàng. Tuy nhiên
xét thấy do quan hệ là bạn trai của bị cáo T2 nên H9 thường xuyên đi cùng, giúp
sức và số tiền chiếm đoạt được có chuyển về tài khoản của H9, tuy nhiên phần
lớn số tiền sau chiếm đoạt được bị cáo H9 đều rút ra và đưa lại để bị cáo T2 là
người chiếm đoạt và chi tiêu chính. Vì vậy hình phạt 13 năm tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với hành vi và nhận
thức của bị cáo Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo giảm cho bị cáo Hán Mạnh H9
một phần hình phạt về tội danh này.
[2.2.3] Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 có hành vi giúp sức cùng bị cáo T2,
H9 chiếm đoạt số tiền 568.400.000 đồng đối với hồ sơ Nguyễn Văn Đ1, nhưng bị
cáo không được hưởng lợi gì. Vì vậy, hình phạt 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, áp dụng tính nhận
đạo, khoan hồng của pháp luật giảm cho bị cáo Đ1 một phần hình phạt về tội này.
[2.2.4] Đối với bị cáo Lê Ánh T10 có hành vi sử dụng 01 tài liệu giả để lừa
đảo chiếm đoạt số tiền là 683.060.000 đồng của Ngân hàng S2 nên phải chịu trách
nhiệm hình sự đối với khoản tiền này là đúng nhưng thực chất bị cáo T10 ban đầu
chỉ là người có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo, được đối tượng
Nguyễn Doãn C giới thiệu mới gặp và được bị cáo Nguyễn Thùy Trang chủ M3
và cùng với bị cáo H1 chủ động làm giả tài liệu để chiếm đoạt số tiền như đã bị
quy kết; số tiền hưởng lợi không lớn. Vì vậy hình phạt 12 năm tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, áp dụng tính
nhận đạo, khoan hồng của pháp luật giảm cho bị cáo Lê Ánh T10 một phần hình
phạt về tội này.
-- 23 of 27 --
24
[2.2.5] Đối với bị cáo Nguyễn Quang H5 đồng phạm với bị cáo T2, H1 trong
03 hồ sơ tín dụng là Nguyễn Thị Hoài T3, Nguyễn Văn Đ1 và Hà Trung S. Tại
bản án sơ thẩm đã xác định “vai trò của bị cáo là tích cực, hỗ trợ đủ điều kiện cấp
tín dụng cho các hồ sơ này nên vai trò và trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo T2,
H1 nhưng cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên trong các hồ sơ vay vốn này thì
hành vi giúp sức của H5 có mức độ; số tiền hưởng lợi không lớn; đã chủ động tác
động gia đình nộp hết số tiền bị truy thu, tiền khắc phục hậu quả cho Ngân hàng;
tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xác nhận của chính quyền địa phương
về hoàn cảnh gia đình, nhân thân bị cáo tốt, chưa tiền án, tiền sự; bị cáo tuổi đời
còn trẻ, chưa lập gia đình; trước khi phạm tội bị cáo tham gia nhiều hoạt động
thiện nguyện; được Ngân hàng S2 tặng Giấy khen trong quá trình công tác; gia
đình có công Cách mạng; bị cáo tiếp tục thể hiện thái độ ăn năn, hối cải… nên áp
dụng tính nhân đạo của pháp luật, chấp nhận kháng cáo giảm cho bị cáo một phần
hình phạt tương xứng với mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
[2.2.6] Đối với các bị cáo Dương Hoàng K và Trần Văn D1; tại bản án sơ
thẩm đã xác định các bị cáo là “đồng phạm cùng nhau trong việc thuê T2, H1 làm
giả để sử dụng 01 tài liệu giả khi thực hiện vay vốn tại hồ sơ tín dụng Dương
Hoàng K” là đúng. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là người có nhu cầu vay vốn để
kinh doanh là nhu cầu chính đáng nhưng không có tài sản thế chấp. Chính đối
tượng Nguyễn Doãn C và bị cáo Nguyễn Thùy T2 đã chủ động và hướng dẫn cũng
như trực tiếp thực hiện làm giả tài liệu là giấy tờ xe ô tô, liên hệ với ngân hàng để
thế chấp giấy tờ chiếc xe này giúp cho K và D1. Quá trình sử dụng khoản vốn vay
được này vào mục đích kinh doanh mua và cho thuê xe ô tô tự lái cũng như thực
hiện trả gốc và lãi hàng tháng đã được cơ quan điều tra xác định; do đại dịch C2
nên các bị cáo không tiếp tục trả được gốc và lãi nhưng không trốn tránh mà còn
liên hệ với ngân hàng để xin giảm tiền lãi; trước khi vụ án được đưa ra xét xử sơ
thẩm thì các bị cáo đã thanh toán xong toàn bộ khoản vay này. Tại cấp phúc thẩm
cả hai bị cáo xuất trình thêm một số tài liệu mới thể hiện gia đình các bị cáo có
công với Cách mạng; ông nội bị cáo D1 được Chính phủ tặng Huy chương Kháng
chiến Hạng hai, bố bị cáo là thương binh; bà nội bị cáo K được tặng Bằng có công
với nước…; các bị cáo tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện tại địa
phương; có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính. Vì vậy việc các bị cáo Trần Văn
D1 và Dương Hoàng K bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Sử dụng con dấu, tài
liệu giả của cơ quan, tổ chức” và xử phạt mỗi bị cáo 18 tháng tù là đúng quy định
nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội thấy không
cần thiết phải bắt các bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo
dục đối với các bị cáo.
[3] Quan điểm của các Luật sư bào chữa cho các bị cáo Lê Duy H1, Lê Ánh
T10, Hán Mạnh H9, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Quang H5 tại phiên tòa phù hợp
với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên
tòa đối với các bị cáo phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận.
-- 24 of 27 --
25
[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Duy H1, Lê Ánh T10, Hán Mạnh
H9, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Quang H5, Trần Văn D1 và Dương Hoàng K; sửa
một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 810/2025/HS-ST ngày 26, 27 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, về phần hình phạt đối với các bị cáo
Lê Duy H1, Lê Ánh T10, Hán Mạnh H9, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Quang H5,
Trần Văn D1 và Dương Hoàng K. Cụ thể:
* Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Duy H1, Hán Mạnh H9, Nguyễn Quang H5, Lê Ánh
T10, Nguyễn Văn Đ1, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Tuyên bố các bị cáo Lê Duy H1, Lê Ánh T10, Nguyễn Văn Đ1, Dương
Hoàng K, Trần Văn D1 phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ
chức”.
* Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s, (áp
dụng thêm điểm b đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”) khoản 1, khoản 2